Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    GTS_thang_2_Kien_quyet_kien_tri_dau_tranh_phong_chong_tham_nhung_tieu_cuc_gop_phan_xay_dung_Dang_va_Nha_nuoc_ta_ngay_cang_trong_sach_vung_manh.flv GTS_Son_La_voi_chien_dich_Tay_Bac_1952.flv Gts_Dao_hieu_trong_doi_song_xa_hoi_Viet_Nam_hien_nay.flv Me_rat_tu_hao_ve_con_day_An_Nhung_dieu_con_hoc_hom_nay_la_nhung_bau_vat_quy_gia_ma_chung_ta_can_giu_gin_va_truyen_lai_cho_the_he_sau.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Menu chức năng 1

    Menu chức năng 2

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Trạng Trình sấm và kí

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Đào Thị Trà
    Ngày gửi: 15h:48' 22-08-2025
    Dung lượng: 229.3 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Trạng trình
    Thư viện Ebook Sách Mới www.sachmoi.net
    Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491) tại
    làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải
    Phòng. Thân phụ ông là nho sinh Nguyễn Văn Định (sau do con có công được vua truy phong Thái bảo
    Nghiêm Quận công). Thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục (sau được phong Từ Thục phu nhân), con gái quan
    Thượng thư Nhữ Văn Lan, bà là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số.
    Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã tiếp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương. Ông khôi ngô, tuấn tú, tư chất
    khác thường, một tuổi ông đã nói sõi, lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ
    văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ đấy, không quên chữ nào.
    Lớn lên ông theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá).
    Ông sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.
    Thời bấy giờ trong nước biến loạn, ông không muốn xuất đầu, lộ diện, đành ở ẩn một nơi. Năm Đại
    Chính thứ sáu (1535) đời vua Mạc Đăng Doanh lúc 45 tuổi, ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua
    Mạc cất ông lên làm Tả Thị lang Đông các Học sĩ. Vì ông đỗ Trạng nguyên và được phong tước Trình
    Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là Trạng Trình.
    Làm quan được bảy năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên xin cáo
    quan năm 1542.
    Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học cạnh sông Tuyết,
    do đó học trò gọi ông là "Tuyết giang Phu tử". Bạn của ông là những tài danh lỗi lạc một thời như
    Bảng nhãn Bùi Doãn Đốc, Thám hoa Nguyễn Thừa Hưu, Thư Quốc công Thương thư Trạng nguyên
    Nguyễn Thiến. Học trò của ông có nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Dữ- tác giả Truyền kỳ mạn lục,
    Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh,Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Quốc công Nguyễn Quyện,
    Thượng thư Bộ Hộ Trạng nguyên Giáp Hải, Tiến sĩ Trương Thời Cử, Tiến sĩ Đinh Thời Trung, Hàn
    Giang Phu tử Nguyễn Văn Chính ...
    Ông mất năm Ất Dậu (1585) hưởng thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng
    vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về viếng. Việc vua Mạc cử người được vua coi
    như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang
    ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy phong Nguyễn Bỉnh Khiêm tước Thái phó Trình Quốc công.
    Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những tác phẩm văn thơ có giá trị như tập thơ Bạch Vân,
    gồm hàng trăm bài thơ chữ Hán (còn lưu lại) và hai tập Trình Quốc công Bạch vân thi tập và Trình
    Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thi tập, hay còn gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi, (với hàng trăm bài thơ
    chữ Nôm) hiện còn lưu lại được một quyển của Bạch Vân thi tập gồm 100 bài và 23 bài thơ trong tập
    Bạch Vân Gia Huấn mang nhiều chất hiện thực và triết lý sâu xa, thể hiện đạo lý đối nhân xử thế lấy
    đức bao trùm lên tất cả, mục đích để răn dạy đời.

    Khi theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển Thái Ất thần kinh từ đó ông tinh
    thông về lý học, tướng số... Sau này, dù Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến
    Tông (Mạc Phúc Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề
    cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa.
    Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình quốc công. Nhờ học tính theo Thái Ất,
    ông tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau này. Người Trung Hoa khen Trạng Trình Nguyễn Bỉnh
    Khiêm là "An Nam lý số hữu Trình Tuyền". Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và
    suy tôn là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam. Ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu
    thế mà người đời gọi là: Sấm Trạng Trình" (*)

    Sấm Trạng Trình
    Ban biên tập: "Sấm Trạng Trình" hiện nay có nhiều bản khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu bạn đọc,
    chúng tôi đăng lại toàn bộ bản (bản A) do Nguyễn Nghiệp sưu tầm, giới thiệu trong sách "Trạng Trình
    - Sấm và Ký" NXB Văn hóa - Thông tin.
    BẢN A - SẤM KÝ TRẠNG TRÌNH
    Đây là bản trích ở “Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển” (tập 2) của Trịnh Văn Thanh. Bản này
    ngoài 14 câu "Cảm đề" có 248 câu “Sấm ký” cộng 262 câu.
    Để tiện việc nghiên cứu, chúng tôi chia 248 câu trong phần “Sấm ký" thành 58 khổ thơ. với 8 khổ 6
    câu còn lại 50 khổ thơ 4 câu và đánh sớm 1 đến 58. Tám khổ thơ 6 câu là các khổ thứ 1 , 6, 1 0, 1 9,
    23, 31, 34 và 44
    CẢM ĐỀ
    Thanh nhàn vô sự là tiên,
    Năm hồ phong nguyệt ruỗi thuyền buông chơi(1)
    Cơ tạo hoá,
    Phép đổi dời,
    Đầu non mây khói toả,
    Mặt nước cánh buồm trôi,
    Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi,
    Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời.
    Tuổi già thưa kém bạn(2)
    Văn chương gởi lại đời.
    Dở hay nên tự lòng người cả,
    Bút nghiên soi hoa chép mấy lời
    Bí truyền cho con cháu.
    Dành hậu thế xem chơi.

    (1) Phạm Lãi sau khi lập kế cho Việt Vương Câu Tiễn diệt Ngô Phù Sai rồi chán dường danh lợi đổi
    tên là Đào Chu cùng với Tây Thi đi chu du trên Ngũ Hồ.
    (2) Thua kém bạn ở đây có nghĩa là ít bạn (cách nói cổ).
    Sấm ký
    1.
    Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
    Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
    Tự Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước,
    Đã bao lần ngôi nước đổi thay
    Núi sông thiên định đặt bày
    Đồ thư một quyển xem nay mới rành.
    Chú thích: (1) Khổ mở đầu. Đồ thư là bản đồ và sách.
    2.
    Hoà đao mộc lạc
    Thập bát tử thành.
    Đông A nhật xuất,
    Dị mộc tái sinh.
    Chú thích: (2) Hoà, đao, mộc là chữ Lê, lạc là rơi, ý nói nhà Lê hết, Thập, Bát, Từ là chữ Lý ám chỉ
    nhà Lý nối tiếp. Đông A là chữ Trần. Dị mộc tái sinh là cây khác sống lại, ý nói nhà Hậu Lê.
    3
    Chấn cung xuất nhật
    Đoài cung vẫn tinh.
    Phụ nguyên trì thống,
    Đế phế vi đinh.

    (đọc bình luận)

    Chú thích: (3) Nói nhà Nguyễn Tây Sơn xuất hiện

    4.
    Thập niên dư chiếm,
    Thiên hạ cửu bình.
    Lời thần trước đã ứng linh,
    Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.
    Chú thích: (4) Hơn mười năm chinh chiến, thiên hạ mới được lâu dài yên ổn.
    5
    Hoà đao mộc hồi dương sống lại.
    Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương
    Hà thời biện - lại vi vương
    Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.

    (đọc bình luận)

    Chú thích: (5) Thời Trịnh - Nguyễn đánh nhau, Nam Bắc phân tranh, nhà Lê Trung Hưng, Nguyễn
    Nhạc lên làm vua.
    6.
    Lê tồn, Trịnh tại,
    Lê bại, Trịnh vong.

    (đọc bình luận)

    Bao giờ ngựa đá sang sông,
    Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng.
    (Hà thời thạch mã độ giang
    Thử thời Vĩnh Lại nghênh ngang công hầu) (Đọc bình luận)
    Chú thích: (6) Nói về quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh Dân Vĩnh Lại cả làng được làm quận công
    7
    Chim bằng cất cánh về đâu ?
    Chết tại trên đầu hai chữ quận công
    Bao giờ trúc mọc qua sông

    Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây. (đọc bình luận)
    Chú thích: (7) Về Nguyễn Hữu Chỉnh (bằng quận công) và chiến thắng Đống Đa lịch sử
    8
    Đoài cung một sớm đổi thay,
    Chân cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
    Dầu cha lộn xuống chân con
    Mười bốn năm tròn hết số thì thôi. (đọc bình luận)
    Chú thích: (8) Vua Quang Trung truyền đến đời vua Cảnh Thinh, hai đời được mười bốn năm
    9
    Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
    Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
    Dục lòng chinh chích u mê
    Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.

    (đọc bình luận)

    Chú thích: (9) Nhà Nguyễn mắc mồi Tây Dương, mất chủ quyền về tay người Pháp và cái chết của vua
    Dục Đức
    10
    Để loài bạch quỷ Nam xâm,
    Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly.
    Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy.
    Gia đình một ở ba đi dần dần,
    Cho hay những gã công hầu,
    Giầu sang biết gửi nơi đâu chuyến này. (đọc bình luận)
    Chú thích: (10) Nhà Nguyễn đưa dân ta vào vòng nô lệ và ba vị vua yêu nước bị đi đày ở Châu Phi
    11
    Kia kìa gió thổi lá rung cây.

    Rung Bắc rung Nam Đông tới Tây.
    Tan tác KIẾN kiều AN đất nước
    Xác xơ Cổ thụ sạch AM mây.

    (đọc bình luận)

    12
    LÂM giang nổi sóng mù THAO cát,
    HUNG địa tràn dâng Hoá nước đầy.
    Một ngựa một yên ai sùng bái ?
    Nhắn con nhà VĨNH BẢO cho hay.
    Chú thích: (11,12) Cuộc khởi nghĩa Yên Bái bất thành năm 1930.
    13
    Tiền ma bạc quỷ trao tay,
    Đồ, Môn, Nghệ, Thái dẫy đầy can qua.
    Giữa năm hai bẩy mười ba,
    Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây. (đọc bình luận)
    Chú thích: (13) Các cuộc khơi nghĩa đầu thế ký 20 và cái chết của viên toàn quyền Pierre Pasquier
    14
    Rồng nằm bể cạn dễ ai hay,
    Rắn mới hai đầu khó chịu thay.
    Ngựa đã gác yên không người cưỡi,
    Dê không ăn lộc ngảnh về Tây.
    15
    Khỉ nọ ôm con ngồi khóc mếu,
    Gà kia vỗ cánh chập chùng bay
    Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa,

    Ăn no ủn ỉn, lợn kêu ngày.
    Chú thích: (14, 15) Những biến cố trong tám năm liên tiếp : Thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi.
    16
    Nói cho hay khảm cung ong dậy,
    Chí anh hào biết đấy mới ngoan,
    Chữ rằng lục, thất nguyệt gian,
    Ai mà giữ được mới nên anh tài.
    17
    Ra tay điều đỉnh hộ mai,
    Bây giờ mới rõ là người an dân.
    Lọ là phải nhọc kéo quân,
    Thấy nhân ai chẳng mến nhân tìm về.
    18
    Phá điền than đến đàn dê,
    Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng.
    Dê đi dê lại tuồn luồn,
    Đàn đi nó cũng một môn phụ trì.
    19
    Thương những kẻ nam nhi chí cả,
    Chờ vội sang tất tả chạy rong.
    Học cho biết chữ cát hung,
    Biết phương hướng đứng chớ dừng lầm chi,
    Hễ trời sinh xuống phải thì,
    Bất kỳ nhi ngọ tưởng gì đợi mong.

    20
    Kìa những kẻ vội lòng phú quý,
    Xem trong mình một tí đều không
    Ví dù có gặp ngư ông,
    Lưới đăng đâu dễ nên công mà hòng.
    21
    Khuyên những đứng thời trung quân tử,
    Lòng trung nghi nên giữ cho mình.
    Âm dương cơ ngẫu hộ sinh,
    Thái Nhâm, Thái ất trong mình cho hay.
    22,23
    Chờ vật vờ quen loài ong kiến,
    Hư vô bàn miệng tiếng nói không .
    “Ô hô thế sự tự bình bồng,
    Nam, Bắc hà thời thiết lộ thông.
    Hồ ẩn sơn trung Mao tận bạch, (đọc bình luận)
    Kinh cư hải ngoại huyết lưu hồng.
    Kê mình ngọc thụ thiên khuynh Bắc,
    Ngưu xuất Lam điền nhật chính Đông.
    Nhược đãi ưng lai sư tử thượng,
    Tứ phương thiên hạ thái bình phong”
    Chú thích: (22,23) Tám câu cuối, ông Ngư Phố giác đã dịch nôm như sau :
    Than đi thế sự thật bình bồng !
    Nam, Bắc chừng nào thiết lộ thông ?

    Hồ ẩn trong non, mao thấy trắng,
    Kình ngoi ngoài biển huyết loang hồng.
    Gà kêu cây ngọc trơi nghiêng Bắc,
    Trâu tới Lam điền bóng rạng Đông
    Tới lúc ưng về sư tứ dậy,
    Thái bình mớn toả khắp non sông
    24
    Ngõ mây gặp hội mây rồng,
    Công danh rạng rỡ chép trong vân đài.
    Nước Nam thường có Thánh tài.
    Sơn hà vững đặt ai hay tỏ tường?
    25
    So mấy lề để tàng kim qũy,
    Kể sau này ngu bỉ được coi.
    Đôi phen đất lở cát bồi,
    Đó đây ông kiến dậy trời quỷ ma.
    26
    Ba con đổi lấy một cha,
    Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền .
    Mão, Thìn, Tý, Ngọ bất yên,
    Đợi tam tứ ngũ lai niên cũng gần. (đọc bình luận)
    Chú thích: (26) Việc thay dần đồng tiền Khải Định bằng đồng Bảo Đại
    27
    Hoành sơn nhất đái,

    Vạn đại dung thân,

    (đọc bình luận)

    Đến thời thiên hạ vô quân,
    Làm vua chẳng dễ, làm dân chẳng lành. (đọc bình luận)
    Chú thích: (27) Chúa Nguyễn vào Nam cũng có thế lực
    28
    Gà kêu cho khỉ dậy nhanh,
    Phụ nguyên số đã rành rành cáo chung,
    Thiên sinh hữu nhất anh hùng,
    Cửu dân độ thế trừ hung diệt tà.
    Chú thích: (28) Nhà Nguyễn cáo chung
    29
    Thái Nguyên cận Bắc đường xa,
    Ai mà tìm thấy mới là thần minh,
    Uỷ nghi dung mạo khác hình,
    Thác cư một góc kim tinh phương Đoài.
    30
    Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi,
    Chờ cơ mới sẽ ra đời cứu dân,
    Binh thư mây quyển kinh luân
    Thiên văn, địa lý, nhân dân, phép mầu.
    31
    Xem ý trời ngõ hầu khải thánh,
    Dốc sinh ra điều đỉnh hộ mai.
    Song thiên nhật nguyệt sáng soi,

    Thánh nhân chẳng biết thì coi như tường
    Thông minh kim cổ khác thường,
    Thuấn, Nghiêu là trí, Cao Quang là tài.
    Chú thích: (29-31) Một vị thành nhân sáng suốt mở đường cho dân tộc, đức độ nhân trí như vua
    Nghiêu, vua Thuấn, tài giỏi như vua Hán Cao tổ và vua Quang Vũ đế.
    32
    Đấng hiên ngang nào ai biết trước,
    Tài thao lược yêm bác vu văn.
    Ai còn khoe trí khoe năng,
    Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.
    33
    Chưa từng thấy nay đời sự lạ,
    Chốc lại mòng gá vạ cho dân.
    Muốn bình sao chẳng lấy nhân,
    Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình.
    34
    Dã ngu dại Hoàn,
    Linh đời Hán Lại đua nhau quần thán đồ lê.
    Chức này quyền nọ say mê,
    Làm cho thiên hạ khôn bề tựa nương.
    Kẻ thì phải thuở hung hoang,
    Kẻ thì bận của bổng toan, khốn mình.
    Chú thích: (32-34) Chưa thấy tài liêu nào giải thích xem ứng với sự kiện gì. Hoàn Đế và Linh Đế và
    hai vi hôn quân ở cuối đời Đông Hán.
    35

    Cửu cửu càn khôn dĩ định,
    Thanh minh thời tiết hoa tàn,
    Trực đảodương đầu mã vĩ,
    Hồ binh bát vạn nhập Trường An. (đọc bình luận)
    Chú thích: (35) Tám vạn bộ đội cụ Hồ vào giải phóng Thủ đô
    36
    Nực cười những kẻ bàng quan,
    Cờ tan lại muốn toan đường chống xe.
    Lại còn áo mũ xum xoe
    Còn ra xe ngựa mầu mè khoe khoang.
    37
    Ghê thay thau lẫn với vàng,
    Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng.
    Thánh ra tuyết tán mây tan,
    Bấy giờ mới sáng rõ ràng nơi nơi.
    38
    Can qua, việc nước bời bời,
    Trên thuận ý trời, dưới đẹp lòng dân,
    Oai phong khấp quỷ kinh thần.
    Nhân nghĩa xa gần bách tính ngợi ca.
    39
    Rừng xanh núi đỏ bao la,
    Dông tàn Tây bại sang gà mới yên,
    Sửu Dần thiên hạ đảo điên,

    Ngày nay thiên số vận niên rành rành.
    40
    Long vĩ sà đầu khởi chiến tranh,
    Can qua xứ xứ khổ đao binh.
    Mã đề dương cước anh hùng tận,
    Thân, dậu niên lai kiến Thái bình. (đọc bình luận)
    Chú thích: (40) Bốn câu này được ông Ngự Phù giáo dịch như sau: Đuôi rồng đầu rắn nổi chiến tranh/
    Khắp hòa thiên hạ khố đao binh/ Móng dê chân ngựa anh hùng hết/ Thân dậu rồi ra mới thái bình./ nói
    về cuộc Đại chiến.thế giời thứ hai.
    41
    Sự đời tính đã phân minh,
    Thanh nhàn mới kể chuyện mình trước sau:
    Đầu thu gà gáy xôn xao,
    Mặt trăng xưa sáng tỏ vào Thăng Long (đọc bình luận)
    Chú thích: (41) Cách mạng tháng tám - 1945
    42
    Chó kêu ầm ĩ mùa đông,
    Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi,
    Lợn kêu tình thế lâm nguy,
    Qủy Vương chết giữa đường đi trên giời.
    Chú thích: (42) Nhà Nguyễn cáo chung. Hay câu sau có người cho ám chỉ Đại tướng Pháp Leclerc ngộ
    nạn máy bay chết cháy
    43
    Chuột xa chính gạo nằm chơi,
    Trâu cày ngốc lại chào đời bước ra.
    Hùm gầm khắp nẻo gần xa,

    Mèo kêu rợn tiếng quỷ ma tơi bời.
    44
    Rồng bay năm vẻ sáng ngời,
    Rắn qua sửa soạn hết đời sa tăng.
    Ngựa hồng quỉ mới nhăn răng,
    Cha con dòng họ thầy tăng hết thời,
    Chín con rồng lộn khắp nơi,
    Nhện dăng lưới gạch dại thời mắc mưu.
    Chú thích: (43,44) Giặc Pháp bại trận
    45
    Lời truyền để lại bấy nhiêu,
    Phương Đoài giặc đã đến chiều bại vong.
    Hậu sinh thuộc lấy làm lòng,
    Đến khi ngộ biến đường trong giữ mình.
    46
    Đầu can Võ tướng ra binh,
    Ắt là trăm họ thái bình âu ca.
    Thần Kinh Thái ất suy ra,
    Đễ dành con cháu đem ra nghiệm bàn.
    47
    Ngày thường xem thấy quyển vàng
    Của riêng bảo ngọc để tàng xem chơi.
    Bởi Thái Ất thấy lạ đời,
    Ấy thuở sâm trời vô giá thập phân.

    48
    Kể từ Lạc Long Quân,
    Đắp đổi xoay vần đến lục thất gian.
    Mỗi đời có một tôi ngoan,
    Giúp chung nhà nước dân an thái bình.
    Chú thích: (45-48) Nói vì sự ra đời của bài Sấm và dần dần trăm họ thái bình, quốc thái dân an.
    49
    Phú quý hồng trần mộng,
    Bần cùng bạch phát sinh.
    Hoa thôn dã khuyển phệ,
    Mục giã giục nhân canh.
    50
    Bắc hữu Kim thành tráng,
    Nam hữu Ngọc bích thành.
    Phân phân tùng bách khởi,
    Nhiễu nhiễu xuất Dông chính.
    51
    Bảo giang thiên tử xuất.
    Bất chấp tự nhiên thành,
    Rồi ra mới biết thánh minh.,
    Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.
    Chú thích: (49-51) Cuộc sống dần tới ấm no. Mấy khổ này dịch như sau: Giầu sang mộng bụi hồng/
    Khốn cùng sinh tóc bạc/ Hoa Thôn chó sủa nhiều/ Trẻ trâu gìục người gác/ Bắc có Kim Thành vững/
    Nam có Ngọc Bích Thành/ Tuyến rơí tùng bách xanh/ Bối rối thủa đông chinh/ Bảo giang vua xuất
    hiện/ Chẳng đánh tự nhiên thành/ Rồi ra mới biết thánh minh/ Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò.
    52

    Nhị Hà một dải quanh co,
    Chính thực chốn ấy đê đô hoàng bào.
    Khắp hoà thiên hạ nao nao,
    Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng?
    Chú thích: (52) Chính Hà Nội (có sông Nhị Hà chảy qua) mới là kinh đô.
    53
    Nói đến độ thầy tăng ra mở nước,
    Dám quỷ kia xuôi người đến đâu.
    Bấy lâu những cậy phép mầu,
    Bây giờ phép ấy đề lâu không hào.
    Chú thích: (53) Nói về thực dân Pháp vẫn tự nhận là báo hộ khai hoá nhưng do hà hiếp dân ta lại vẫn
    cậy vào văn minh cơ khí nay đã hết thời, dân tộc ta đã trưởng thành, các thứ ấy không còn hiệu nghiệm
    nữa.
    54
    Cũng có kẻ non trèo biển lội,
    Lánh mình vào Ở nội Ngô, Tề.
    Có thầy Nhân Thập đi về,
    Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh.
    55
    Những người phụ giúp thánh minh,
    Quân tiên xướng nghĩa chẳng tàn hại ai.
    Phùng thời nay hội thái lai,
    Can qua chiến trận để người thưởng công.
    56
    Trẻ già được biết sự lòng,

    Ghi là một bản để hòng giở xem.
    Đời này những thánh cùng tiên.
    Sinh những người hiền trị nước an dân.
    Chú thích: (54 - 56) Thấy nhân Thập (danh từ riêng) chưa rõ chỉ ai. Hai bên phải trái có người hỗ trợ,
    cây cỏ cũng thành binh lính. Gặp thời nay tới hội tốt lành rạng rỡ, nhưng chiến công thắng giác đều
    được khen thưởng, nhân dân vui sướng.
    57
    Này những lúc thánh nhân chưa lại,
    Chó còn nằm đầu khải cuối thu.
    Khuyên ai sớm biết khuông phù,
    Giúp cho thiên hạ Đường, Ngu ngõ hầu.
    58
    Cơ Tạo Hoá phép mầu khôn tỏ,
    Cuộc tàn rồi mới rõ thấp cao.
    Thấy sấm từ đây chép vào,
    Một mảy tơ hào chẳng dám sai ngoa.

    GIAI THOẠI VỀ TRẠNG LÚC SINH THỜI:
    1. Bà thân mẫu Từ THỤC PHU NHÂN
    Thân phụ của Trạng là Văn Định sau. được nhà Mạc truy tặng chức Thải Bảo, Nghiêm Quận Công.
    Thân mẫu là con gái quan Hộ bộ Thượng thư Nhữ Văn Lan, sau được nhà Mạc truy tặng Từ Thục phu
    nhân. Tục truyền Từ Thục phu nhân là người đàn bà giỏi về văn chương và đặc biệt sở trường về khoa
    Lý số. Bà tự xem tướng biết mình sau sinh quý tử, nên kén chồng khá lâu. Mãi đến năm ngoài 30 tuổi,
    mới gặp ông Văn Định là người có tướng hợp, bà mới chịu cùng kết hôn.
    Cái mộng lớn của bà là sẽ sinh con làm Thiên tử, chứ không chịu công hầu khanh tướng. Vì thế, hôm
    động phòng hoa chúc, bà cắm một chiếc đũa ở trước sân và dặn ông Văn Định: Khi bóng trăng đến
    chiếc đũa, ông mới được nhập phòng. Đợi lâu quá, nóng ruột, ông Văn Định bước vào. Bà trách rằng:
    - Ông vội vàng như thế thì con cái sau này chỉ làm đến Tứ trụ hay đỗ đến Trạng Nguyên là cùng, chứ
    không thể làm được Hoàng đế.
    Hai vợ chống ăn ở được ít lâu, một hôm bà đi đò gặp một thanh niên vạm vỡ làm nghề đánh cá, bà
    xem tướng thấy rõ người này mới thật là đại quý, nhưng tiếc việc hôn nhân đã lỡ cùng ông Văn Định
    rồi. Người thanh niên ấy tức là Mạc Đăng Dung, sau này là Thái Tổ nhà Mạc. Tuy thế, những bà vẫn
    tin ở các phép nhân định thắng thiên của mình.
    Tương truyền, một hôm bà đưa con về quê, dọc đường gặp một thày tướng Trung Hoa. Sau khi liếc
    qua dung mạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thầy Tàu buột miệng khen: "Tướng mạo của thằng bé này
    không phải tầm thường. Nhưng vì nước da hơi thô nên chỉ làm được Trạng Nguyên mà thôi". Bà nghe
    lời nói của thầy tướng không được vui lòng. Nguyễn Bỉnh Khiêm là con trai đầu lòng của bà. Bà nuôi
    hy vọng rất lớn nên cầu mong ân trạch của tiền nhân và quyết sau này con bà phải ở ngôi Thiên Tử.
    Nguyễn Bình Khiêm thông minh lạ lùng. Năm đầy tuổi thôi nôi đã biết nói. Năm con lên 4 tuổi, bà đã
    dạy cho học thuộc lòng các bài chính nghĩa của Kinh, Truyện cùng với mươi bài thơ Nôm. Có một
    hôm bà mẹ đi vắng, ông Văn Định nhân lúc rảnh rang, bồng con dạo chơi thơ thẩn trước sân. Nhìn thấy
    ánh trăng, cao hứng ông ngâm lên: Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung. Bỉnh Khiêm đã ứng khẩu đọc:
    Vén tay tiên, hốt hốt rung. Ngạc nhiên vì tài ứng đối giỏi của cậu con trai, ông Văn Định cho rằng con
    mình là "thần đồng xuất thế". Khi bà vợ về ông Văn Định liền đem câu chuyện thuật lại. Bà mẹ của
    Bỉnh Khiêm đã không mừng thì chớ, lại trách chồng sao ưng mặt trăng là một khí tượng nhỏ, tượng
    trưng cho phận bầy tôi, sao sánh được với mặt trời, biểu hiện cho đấng Thiên tử. Cách ít lâu sau bà
    chán nản bỏ đi. Có thuyết cho rằng bà đã bước thêm một bước nữa và sinh hạ được ông Phùng Khắc
    Khoan, tác là ông Trạng Bùng, tác giả "Ngư Phủ nhập Đào Nguyên truyện" và "Nghị trai thi tập", cũng
    gọi là "Phùng Công thi tập".
    2. Quan Bảng nhãn LƯƠNG ĐẮC BẰNG
    16.12.2010 10:10

    Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm
    Nguyễn Nghiệp
    Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên theo học quan Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, người làng Hội Trào, huyện
    Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hoá, Nguyễn Bỉnh Khiêm học rất giỏi và nổi tiếng về văn thơ.
    Một hôm cụ Lương Đắc Bằng ốm, biết mình không saosống lâu được nữa bèn gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm
    lại, chỉ cho ông một cái tráp để trên đầu giường, bảo giở ra mà lấy một bộ sách gói kín trong nhiều lần
    gấm quý. Cụ Bằng bảo:
    - “Đây: thầy cho quyển sách này và chỉ có con mới có thể hiểu được. Giờ này, thầy cũng nên nhắc lại
    một việc ly kỳ cho con nghe: Lúc thầy đi sứ qua Tàu, sứ mạng xong thầy sắp về thì có một cụ khách
    già cầm trao cho thầy một quyển sách, thầy tưởng cho thầy. Ông ấy lại nói:
    - “Không, ta không phải cho nhà ngươi, ta nhờ người đem về giao cho một người An Nam”.
    Thầy ngạc nhiên hỏi:
    - “Cụ cho ai mà không nói tên?”.
    Ông đáp: - “Không cần, chừng nào trong tâm linh nhà ngươi muốn cho ai là người ấy được phần”.
    “Thầy mới hiểu lại ông ấy là một dị nhân. Ngày nay thầy cho con là con có phần”.
    Mở ra đọc cảm thấy không lãnh hội được gì mấy, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cất quyến sách ấy lại một
    bên. Thỉnh thoảng ông lại đem ra đọc, rồi lại cất, cứ như thế mãi…
    Đến một hôm, có ông khách Tàu đem cho ông Bỉnh Khiêm một bài thơ. ông giở ra xem thì thấy ngu ý
    của bài thơ có phần liên lạc với những câu trong bộ sách của thầy ông trao cho mà ông đã thường
    ngẫm đọc nhiều lần song chưa hề vơ nghĩa. Bộ sách ấy chính là bộ Thái ất Thần Kinh vậy. Nhiều
    người cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm nhờ nghiên cứu những điều bí ẩn trong bộ sách Thái ất Thần Kinh
    này mà thông suốt được mọi việc quá khứ vị lai.

    3. Với vợ : Lấy số tử vi cho cái quạt
    Một hôm trời mùa hạ, bà Trạng đi chợ mua về cho Cụ một cây quạt giấy. Cụ tính ngày giờ, rồi lấy cho
    cây quạt một lá số tử vi. Cụ đoán ra cái ngày chết của nó. Tất cả những việc làm ấy, Cụ đều bí mật
    không cho một ai hay. Cụ phân vân nghĩ:.
    "Nếu để dùng, lâu ngày nó sẽ rách hoặc thất lạc đi, cái đó là sự thường. Nếu đúng như số thật, và quả
    có như vậy mọi việc đều do nơi tiền định, không ai có thể ngăn cản được, thì ta hãy cất đi xem nó ra
    thế nào. Đúng đến ngày ấy, nó có chết thật không?".
    Nghĩ vậy, Cụ niêm phong cây quạt và treo ngay lên chỗ đầu giường.

    Tới ngày, cây quạt vẫn còn nguyên. Bữa đó từ sáng đến chiều. Cụ Ở nhà, quanh quẩn ở nơi giường cả
    ngày để xem cây quạt chết ra sao. Thỉnh thoảng Cụ lại ngắm nghía và lấy phất trần phủi những hạt bụi
    bám xung quanh.
    Trưa hôm ấy, người cháu gọi bà Trạng bằng cô, có việc cần, đến mấy lượt thỉnh Cụ lại chơi, Cụ cũng
    từ chối không đi. Anh ta nghĩ cho Cụ giận mình về việc gì mà không nói, đến than thở, nói với bà
    Trạng để nhờ bà đốc Cụ đi dùm cho, không có, công việc anh không thành.
    Bà Trạng từ sáng đã ngứa mắt thấy Cụ cứ chốc chốc lại phủi bụi cho quạt. Bà lên đốc Cụ đi sang cho
    nhà cháu. Cụ không đi. Bực mình, bà Trạng liền la lối om xòm:
    - Ông ở nhà làm gì, con cháu nó mời mấy lần , mà ông không chịu sang. Tôi mua quạt về dùng, đâu
    phải để ông cất đi làm đày tớ mà phủi bụi cho nó.Vừa la lối bà Trạng vừa nhẩy lên với lấy cây quạt xé
    tan ra từng mảnh. Này quạt, này quạt, không dùng thì xé nó đi để làm
    Thấy vậy, cụ Trạng cả cười nói:
    - Đúng thật, ta tưởng nó chết thế nào, thì ra như vậy đó.
    Bà Trạng cũng không biết ý Cụ nói thế là làm sao. Lúc đó Cụ mới chỉnh tề khăn áo đi sang nhà người
    cháu, và kể lại đầu đuôi câu chuyện với mọi người. Ai nấy cũng đều phục Cụ là tiên tri.

    4. Với môn sinh : Sắt ngắn, gỗ dài ?
    Tối ba mươi Tết một năm nọ, Cụ đang ngồi đàm luận về lý số với một người học trò ở xa đến thăm và
    biếu Cụ lễ vật. Bỗng ngoài cổng có tiếng người gọi mở.
    Cụ sai gia nhân ra bảo hãy chờ một chút. Rồi trong khi đó. Cụ và người học trò bấm quẻ để thử đoán
    xem người gọi cổng đi vào có chuyện gì.
    Cả hai thầy trò cùng bấm vào một quẻ "Thiết đoản, mộc tràng" là sắt ngắn gỗ dài.
    Cụ hỏi:
    - Vậy anh đoán nó vào đây có việc gì ?
    Anh học trò trả lời :
    - Thưa thầy, sắt ngắn gỗ dài, theo ý con, người vào đây chắc hẳn là chỉ có mượn "mai" đào đất mà
    thôi. Chớ ngoài ra không còn cái gì là sắt ngắn gỗ dài nữa.
    Cụ cười nói:
    - Khác với anh, tôi lại đoán là nó đi vào đây mượn búa.
    Nói xong, Cụ cho mở cống, quả nhiên người ấy vào mượn búa thật.

    Anh học trò bị chững người ra vì sư đoán trật của mình.
    Cụ giải thích: Như anh bấm quẻ cũng là giỏi, nhưng mức đoán còn thấp. Anh bảo sắt ngắn gỗ dài mà
    đoán như vậy thì hỏi 30 tết, người ta đến đây để mượn cho nên tôi bảo là nó vào đây để mượn "mai"
    làm gì vì chỉ mượn búa để về bửa củi nấu bánh chưng mà thôi. Bấm quẻ đã trúng, nhưng khi đoán phải
    còn có ý thức cơ biến, mới tránh được những sự sai lầm. Người học trò bái phục, xin nhận lãnh những
    lời chỉ giáo ấy

    5. Với anh học trò nghèo: Vớt người được phú quý
    Tục truyền Ở làng Trạng có người học trò nghèo tên gọi là Bùi Sinh, một hôm đến hỏi Cụ về kế hoạch
    làm giàu Cụ hỏi năm, tháng, ngày, giờ sinh của anh rồi bảo:
    - Sáng mai anh cứ ra chỗ bờ sông mà đón, hễ gặp cái gì, dầu dơ bẩn đến đâu, anh cũng cứ vớt lên,
    đừng ngại, rồi anh sẽ giàu đấy. Bùi Sinh từ tạ ra về. Theo lời Cụ dặn, sáng mai vào lúc đúng giờ Dần,
    anh ta ra ngồi ở mé sông để đợi. Anh vừa ra thì trời nổi giông gió sấm sét ầm ầm, rồi mưa đố xuống
    như trút nước.
    Gặp vậy, anh ta đã thối chí, toan chạy trở lại, nhưng nghĩ phải cố gắng xem sao, lời Cụ Trạng nói có
    linh ứng gì không, âu đây cũng là một cái điềm. Anh ta ráng sức chịu trận, ngồi mãi đến lúc bỗng thấy
    từ ngoài xa, có một cái thây người chết theo gió và sóng tạt vào bờ, tấp ngay chỗ trước mặt anh ngồi.
    Theo lời Trạng, hễ gặp gì vớt nấy thế nên mặc dù cái thây ma ấy đã sình và trương lên, mùi hôi thối
    không thể nào chịu được, anh ta cũng cố gắng vớt lên. Khi đem cái thây ma ấy lên bờ thì trời bỗng
    tạnh mưa, giông gió và sấm sét cung thôi không gào nữa.
    Anh ta xem lại cái tử thi thì là cái xác một người con gái. Cái xác ấy tuy đã sình nhưng nét mặt vẫn
    còn đẹp như hoa. Anh ta xem xét quần áo thì ra là một cô gái Tàu. Nàng này không biết là con cái nhà
    ai, ở đâu xa lạ mà mình đeo rất nhiều ngọc ngà châu báu, trong mình lại có giắt thêm một số vàng bạc
    đáng kể.
    Thấy vậy, anh ta mới lấy số tiền ấy, rồi chôn cất tử tế cho nàng. Chôn xong, anh ta trở về, vừa đi vừa
    nghĩ, thầm phục Trạng là một vị thánh tiên tri thật. Cách đó chừng nửa tháng, bỗng có giấy ở bên Tàu
    tư sang cho biết có một bà công chúa đi thuyền ra chơi Nam Hải, không may nửa chừng bị sóng đánh
    lật tất cả người trong thuyền đều chết, không biết những tử thần có còn và nếu có rạt vào địa phận
    nước Nam thì làm ơn cho biết, và có ai vớt được chôn cất tử tế đàng hoàng, thư sang Thiên Triều sẽ
    trọng thưởng. Thì ra cái tử thi người con gái mà Bùi Sinh vớt ấy, chính là cái xác của công chúa nước
    Tàu vậy.
    Nhận được thư, nhà vua nước ta rao truyền các nơi. Bùi Sinh bèn đem việc tâu lên. Tin ấy truyền sang
    đến Trung Hoa, vua Tàu cho người sang xem xét thì quả thật như vậy. Ấy thế là Bùi Sinh được vua
    nước Trung Hoa thưởng không biết bao nhiêu là tiền của. Từ một anh học trò nghèo rớt mồng tơi,
    không có một miếng đất cắm dùi, anh bỗng trở nên một nhà cự phú nhất vùng. Câu chuyện này đồn đi,
    tiếng Trạng Trình là một nhàtiên tri lại nổi lên như cồn. Sĩ tử các nơi nô nức đến theo học cũng như
    thiên hạ đua đến để hỏi về những việc tương lai.

    6. Với người làng: Ngựa đá sang sông
    Dân miền Vĩnh Lại - nơi quê hương Trạng - hiếu học và trọng việc khoa cử. Nhưng học thì rất nhiều
    mà đỗ đạt thì ít, chẳng có mấy người được làm nên những sự nghiệp lớn lao, trong khi các miền xung
    quanh, phát tích không biết bao nhiêu là anh hùng hào kiệt, văn thì tiến sĩ hoàng giáp, võ thì đô đốc,
    quận công.
    Thấy thế, dân miền Vĩnh Lại cũng nghĩ lấy làm tức. Các sĩ tử mới rú nhau đi đến hỏi Trạng xem ra thế
    nào. Nhưng cụ không trả lời, bảo đó là thiên cơ bất khả lậu.
    Người ta cũng không hài lòng về điểm ấy của Cụ, chẳng những thế lại còn cho Cụ là một người thâm
    hiểm, sai biết mà không chỉ. Nghe phong phanh tin ấy, Trạng bèn làm một con ngựa bằng đá để ở bên
    này sông Vĩnh Lại. Trên lưng con ngựa, Cụ cho thợ khắc hai câu thơ chữ nho:
    "Hà thời thạch mã độ giang,
    Thử thời Vĩnh Lại nghinh ngang công hầu"
    Và hai câu chữ nôm dịch lại ý nghĩa hai câu chữ nho trên:
    "Bao giờ ngựa đá sang sông,
    Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng",
    Khi con ngựa đá được dựng trên bờ sông, mọi người đều tụ tập xem. Và dân làng Vĩnh Lại đời này
    qua đời khác ngong ngóng đón xem chừng nào con ngựa đá sang sông, xem làng có thể phát toàn đô
    đốc, quận công không. Cũng có người cho đó là ý cụ bảo cho dân làng Vĩnh Lại biết rằng đây là một
    việc không bao giờ có được, cũng như câu tục ngữ:
    "Bao giờ rau diếp làm đình,
    Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta".
    Rau diếp bao giờ làm đình được, gỗ lim bao giờ ăn ghém được mà hòng tính chuyện trăm năm, cũng
    như ngựa đá bao giờ mà lội sang sông được, mà hòng những chức như quận công, đô đốc.
    Ngày qua tháng lại, con sông Vĩnh Lại mỗi ngày một lở thêm để bồi sang bên kia, thấm thoắt đến cuối
    đời Hậu Lê thì con ngựa đá không biết chạy mà sang qua sông thật. Sở dĩ có việc ấy là do bờ sông hai
    bên bồi lở mà thay đổi.
    Tới chừng này, dân làng Vĩnh Lại mới nhao lên chờ đón tin mừng, mọi người đều hy vọng một chức
    quận công hay đô đốc sẽ tới cho đời mình. Dân các làng khác nghe tin cũng gớm cho dân làng Vĩnh
    Lại. Uy tín Cụ Trạng Trình đến đây lại sống lại và đồn đi khắp nơi. Đâu đâu cũng thấy bàn tán về
    chuyện con ngựa đá ở bờ sông Vĩnh Lại. Con gái các nơi thi nhau mà về làm dâu làng Vĩnh Lại, trong
    bụng thầm mong rằng rồi mình cũng sẽ trở nên bà đô đốc hay bà quận công. Trai làng Vĩnh Lại ngang
    tàng lên mặt, trai các làng khác không ai dám động tới ngại rằng lỡ ra nay mai các cậu làm nên thì coi

    chừng mà toi cơm.
    Đang khi như vậy thì cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn ở trong Nam nổ ra. Không bao
    lâu quân Tây Sơn thắng trận, tiêu diệt chúa Nguyễn rồi thừa thắng đem binh ra diệt luôn chúa Trịnh ở
    Bắc. Tây Sơn trả lại quyền cho nhà Lê. Vua nhà Lê từ đó thoát khỏi nạn chúa Trịnh chuyên quyền.
    Nhưng sau khi vua Hiển Tông mất, vua Chiêu Thống lên ngôi, dòng dõi của Trịnh lại trở về. Nhà vua
    phải mật triệu Nguyễn Hữu Chỉnh Ở Nghệ An ra giúp. Chỉnh đem binh ra đánh đuổi và dẹp tan đám
    con cháu của Trịnh còn sót lại. Nhưng Chỉnh lại chuyên quyền và ra mặt chống với Tây Sơn.
    Nguyễn Huệ thấy vậy liền sai tướng là Vũ Văn Nhậm đem binh ra đánh Chỉnh, Quân Nhậm tiến gần
    Thăng Long, Chỉnh đem vua chạy trốn. Nửa đường Chỉnh bị quân Nhậm bắt sống. Còn vua thì thoát
    nhưng phải giả dạng là thường dân mang ấn tín trong mình mà chạy.
    Tướng Tây Sơn cho binh mã rượt theo. Nhà vua phải qua sông Vĩnh Lại và ở lại làng này.
    Dân làng Vĩnh Lại thấy thế cho là điềm trời xui khiến, mới rước vua về đình và thảo hịch chiêu mộ
    quân sĩ để chống với Tây Sơn. Sẵn thấy ấn tín của nhà vua đem theo, dân làng liền bức nhà vua phải
    ký giấy phong tước c...
     
    Gửi ý kiến