Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    GTS_thang_2_Kien_quyet_kien_tri_dau_tranh_phong_chong_tham_nhung_tieu_cuc_gop_phan_xay_dung_Dang_va_Nha_nuoc_ta_ngay_cang_trong_sach_vung_manh.flv GTS_Son_La_voi_chien_dich_Tay_Bac_1952.flv Gts_Dao_hieu_trong_doi_song_xa_hoi_Viet_Nam_hien_nay.flv Me_rat_tu_hao_ve_con_day_An_Nhung_dieu_con_hoc_hom_nay_la_nhung_bau_vat_quy_gia_ma_chung_ta_can_giu_gin_va_truyen_lai_cho_the_he_sau.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Menu chức năng 1

    Menu chức năng 2

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tài liệu giáo dục địa phương 11- Sơn La

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Đào Thị Trà
    Ngày gửi: 10h:02' 20-08-2025
    Dung lượng: 21.0 MB
    Số lượt tải: 34
    Số lượt thích: 0 người
    UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    Nguyễn Huy Hoàng (Chủ biên)
    Vũ Thị Hồng Mai – Hà Thị Thư
    Vương Thị Phương Hạnh – Nguyễn Hoài Thu – Nguyễn Hoàng Mai

    Tài liệu Giáo dục địa phương

    TỈNH SƠN LA
    Lớp

    11

    HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
    Mỗi chủ đề trong Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Sơn La lớp 11 được tổ chức thành
    bốn hoạt động cụ thể sau:

    MỞ ĐẦU

    Tìm hiểu và hình thành nhận thức
    ban đầu về nội dung bài học.

    KIẾN THỨC MỚI

    Cung cấp kiến thức phù hợp với nội
    dung bài học và hình thành kĩ năng.

    LUYỆN TẬP

    Củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng
    và ghi nhớ nội dung yêu cầu cần đạt.

    VẬN DỤNG

    Vận dụng kiến thức, kĩ năng vào trải
    nghiệm và ứng dụng thực tế.

    Câu hỏi

    Câu hỏi gợi mở tìm hiểu bài, lĩnh hội
    kiến thức mới.

    Hãy bảo quản, giữ gìn sách giáo khoa để dành tặng
    các em học sinh lớp sau!

    LỜI NÓI ĐẦU
    Theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, nội dung giáo dục
    địa phương là những vấn đề cơ bản và thời sự về địa phương như: Văn
    hoá, lịch sử truyền thống; các vấn đề về địa lý, kinh tế, hướng nghiệp; các
    vấn đề về chính trị – xã hội, môi trường. Mục tiêu của tài liệu nhằm bổ sung
    cho nội dung giáo dục bắt buộc thống nhất trong cả nước, trang bị cho học
    sinh những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu
    quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học để góp phần
    giải quyết những vấn đề của quê hương.
    Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Sơn La lớp 11 được biên soạn theo
    Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
    Đào tạo ban hành, bảo đảm tính cơ bản, khoa học thiết thực và phù hợp
    với thực tiễn tỉnh Sơn La.
    Nội dung chính của Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Sơn La lớp 11 bao
    gồm các kiến thức về địa phương như: Một số loại hình nghệ thuật dân
    gian ở tỉnh Sơn La; Một số gương mặt nhà văn, nhà thơ hiện đại của tỉnh
    Sơn La; Một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở tỉnh Sơn La; Phát triển ngành
    công nghiệp ở tỉnh Sơn La; Phát triển ngành dịch vụ ở tỉnh Sơn La; Phát
    triển công nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh Sơn La; Chính sách
    phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Sơn La; Tác động của một số hoạt động
    sản xuất ở địa phương đến môi trường.
    Mỗi bài học được biên soạn theo bốn phần: Mở đầu – Kiến thức
    mới – Luyện tập – Vận dụng. Kết cấu này phù hợp với khả năng lĩnh hội
    kiến thức và thuận tiện cho việc tổ chức dạy – học, góp phần hình thành
    và phát triển năng lực theo đúng yêu cầu đặt ra của chương trình giáo dục
    phổ thông cấp trung học phổ thông.
    Chúc các em học tập vui, thu nhận thêm nhiều kiến thức về địa phương,
    biết yêu quý và có ý thức xây dựng, phát triển quê hương mình ngày càng
    giàu đẹp!
    Ban biên soạn

    3

    MỤC LỤC
    Chủ đề

    4

    Nội dung

    Trang

    1

    MỘT SỐ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT DÂN GIAN TIÊU BIỂU
    Ở TỈNH SƠN LA

    5

    2

    MỘT SỐ GƯƠNG MẶT NHÀ VĂN, NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI TỈNH SƠN LA

    11

    3

    MỘT SỐ NHÂN VẬT LỊCH SỬ TIÊU BIỂU Ở TỈNH SƠN LA

    17

    4

    PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TỈNH SƠN LA

    24

    5

    PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ TỈNH SƠN LA

    30

    6

    PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
    TỈNH SƠN LA

    39

    7

    CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH SƠN LA

    45

    8

    TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT Ở ĐỊA PHƯƠNG
    ĐẾN MÔI TRƯỜNG

    51

    CHỦ ĐỀ

    1

    MỘT SỐ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
    DÂN GIAN TIÊU BIỂU Ở TỈNH SƠN LA

    Mục tiêu
    – Trình bày được khái niệm nghệ thuật dân gian và nhận biết được một số loại hình
    nghệ thuật dân gian tiêu biểu ở tỉnh Sơn La.
    – Mô tả và giới thiệu được loại hình nghệ thuật dân gian của một số dân tộc ở tỉnh
    Sơn La.
    – Hình thành ý thức bảo tồn, có hành động gìn giữ các loại hình nghệ thuật dân
    gian của các dân tộc ở tỉnh Sơn La.

    MỞ ĐẦU
    Nghệ thuật dân gian là một phần rất quan trọng trong nền văn hóa của mỗi dân tộc.
    Trên đất nước Việt Nam, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có những loại hình nghệ thuật
    dân gian riêng biệt và vô cùng đặc sắc, tạo nên bức tranh tổng hòa về nghệ thuật dân
    gian Việt Nam đa dạng và quý giá.

    Cho biết mỗi hình ảnh dưới đây thể hiện loại hình nghệ thuật dân gian nào, của
    dân tộc nào ở tỉnh Sơn La.

    Hình 1.1

    Hình 1.2

    Hình 1.3

    5

    KIẾN THỨC MỚI
    1. Nghệ thuật dân gian là gì?
    – Nghệ thuật dân gian là nghệ thuật do Nhân dân sáng tạo ra, đáp ứng nhu cầu của
    Nhân dân và nói lên suy nghĩ, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân. Nghệ thuật dân gian
    vừa có tính chất phác, hồn nhiên, ngẫu hứng, vừa quy củ theo kinh nghiệm chắt lọc từ
    đời sống.
    – Nghệ thuật dân gian bắt nguồn và phản ánh đời sống văn hoá của một cộng đồng dân
    cư, gồm sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình thông qua nhiều hình thức như các loại
    hình biểu diễn âm nhạc, biểu diễn múa,... Nghệ thuật dân gian độc đáo của Việt Nam có
    nhiều loại hình như: chèo, tuồng, hát then, múa rối nước, hát xoan, ca trù, dân ca quan họ
    Bắc Ninh,...
    – Nghệ thuật dân gian truyền thống của Sơn La bắt nguồn từ đời sống hiện thực, đồng
    thời phản ánh cuộc sống cũng như tâm hồn, tình cảm của các dân tộc sống trên địa bàn
    tỉnh Sơn La.

    2. Giới thiệu một số loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc ở Sơn La
    a) Dân ca truyền thống
    Dân ca là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đồng bào các dân tộc ở tỉnh
    Sơn La. Dân ca dân gian ở Sơn La được biết đến khá đa dạng và phong phú:
    * Dân ca dân tộc Thái
    Dân ca cổ truyền của người Thái ở tỉnh Sơn La do những thế hệ người Thái sáng tác,
    lưu truyền, trau chuốt và tiếp nối. Căn cứ vào chức năng xã hội - văn hoá của các thể loại,
    dân ca của người Thái ở Sơn La được chia làm ba loại:
    – Dân ca về các chặng của cuộc đời con người có thể nói đến như: hát trong lễ ra cữ (Nhá
    bươn); hát ru (Khắp Ú lụh); hát giao duyên (Khắp báo xào); hát về hôn nhân (Khắp au phua
    au mía); hát lên nhà mới (Khắp khửn hươn maứ); hát tang lễ (Khắp xống khoăn côn tài)…
    – Dân ca gắn với các hoạt động văn hoá có liên quan đến thiên nhiên - siêu nhiên. Trong
    lao động sản xuất có: hát trên cánh đồng (Khắp loong Tôoông), hát đồng dao của trẻ em
    trên bãi chăn gia súc và các chòi lúa (Khắp xư đếch nọi). Trong hoạt động nông nghiệp có:
    hát cầu mưa (Xo phôn), lễ ăn cốm và cơm mới (Kin khảu mảu- khảu maứ).
    – Dân ca trong các hoạt động văn hoá liên quan đến lịch sử cộng đồng và tín ngưỡng
    như: cúng Mường (Xên mường), cúng bản (Xên bản), cúng gia tiên (Xên hướn), hát cúng
    chữa bệnh (Xên một láo)....
    * Dân ca dân tộc Mông
    Người Mông có một kho tàng văn nghệ dân gian rất phong phú và độc đáo, gồm truyện
    cổ, dân ca, tục ngữ, câu đố... Có thể coi đó là những chỉnh thể nghệ thuật gồm cả phần lời,
    phần âm nhạc và nghệ thuật diễn xướng. Về nội dung, có thể chia dân ca dân tộc Mông
    thành ba loại:
    – Dân ca gắn với nghi lễ và phong tục: những bài khấn khi đón đứa trẻ chào đời,
    những bài ca trong lễ dạm hỏi và lễ mừng đám cưới.

    6

    – Dân ca gắn với những vấn đề xã hội:
    Gồm những bài ca than thân trách phận mồ
    côi, than thân trách phận làm dâu; hát ca (cứ
    nìa, he tẩu) trong đám cưới; điệu khóc than
    (nhía) trong đám tang.
    – Dân ca gắn với tình yêu (hay còn gọi là
    dân ca trữ tình, giao duyên): Đây là loại hình
    chiếm số lượng lớn và cũng là tiêu biểu của
    dân ca và âm nhạc dân gian dân tộc Mông.
    * Dân ca dân tộc Dao

    Hình 1.4. Biểu diễn văn nghệ của người
    Mông ở xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên

    Hiện nay, trong cộng đồng người Dao còn lưu giữ một kho tàng văn nghệ dân gian hết
    sức phong phú. Các thể loại dân ca gồm các làn điệu hát giao duyên, đối đáp, hát ru, các
    bài ca nghi lễ, cúng tế... Có thể nói sinh hoạt văn nghệ dân gian trong cộng đồng người
    Dao cho đến nay vẫn giàu sức sống và giữ nguyên được nét truyền thống.
    – Hát páo dung: là hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ, nội dung chính là đề cao cuộc
    sống lao động, đạo đức, lẽ sống, cách ứng xử, tình yêu thiên nhiên, tình yêu lứa đôi…
    – Hát ru: Có thể hát ở mọi nơi, mọi lúc nhưng chủ yếu hát ru con ở nhà.
    – Hát ghẹo: Là một hình thức hát đối đáp nam nữ về tình yêu, về cuộc sống, thường
    hát trong lúc lao động sản xuất hằng ngày, trong đám cưới, vào nhà mới, không gian diễn
    xướng rộng.
    – Các bài ca nghi lễ (chủ yếu là lễ cấp sắc), cúng tế: Là những bài ca có nội dung
    cầu xin thần linh phù hộ cho người được cấp sắc; dạy con cháu về đạo đức, lẽ sống của
    người Dao; cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi...

    Trong các tác phẩm dân ca của các dân tộc ở tỉnh Sơn La mà em biết, em
    thích nhất tác phẩm nào? Nếu có thể, hãy biểu diễn một đoạn trong tác phẩm
    mà em yêu thích nhất.
    b) Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian
    Trong quá trình sinh sống, phát triển, mỗi dân tộc trên địa bàn tỉnh Sơn La đã có ý thức
    chế tạo những loại nhạc cụ để độc tấu, hoà tấu hoặc đệm hát trong sinh hoạt văn hoá
    cộng đồng.
    * Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân tộc Thái
    – Nghệ thuật chơi đàn tính tẩu: Theo tiếng Thái, "tính" có nghĩa là đàn, "tẩu" có nghĩa là
    bầu. Cách gọi tính tẩu là để phân biệt với đàn bầu của người Kinh. Cây đàn tính tẩu gồm
    ba bộ phận chính: thân đàn làm bằng gỗ, bầu đàn làm bằng nửa quả bầu khô, dây đàn
    làm bằng tơ xe. Đây là một loại nhạc cụ thuộc họ dây, của nhóm Thái Trắng vùng Quỳnh
    Nhai và cũng là nhạc cụ của nhóm Thái Trắng khác ở Lai Châu. Cây đàn này dùng để
    đệm cho hát giao duyên và nhất là tấu nhạc cho múa.
    – Nghệ thuật chơi Pí pặp và pí đôi: Là nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà rung tự do và là một
    nhạc cụ rất phổ biến ở dân tộc Thái Đen Mường La, Mường Muổi, Mường Mụa. Pí pặp là
    nhạc cụ của nam giới, dùng để chơi nhạc đệm cho bài hát của nữ giới. Hai chiếc Pí pặp có
    cùng kích thước, cùng định âm, được buộc ghép song song với nhau sẽ tạo ra chiếc Pí đôi.

    7

    – Nghệ thuật biểu diễn khèn bè (Kén pé): Là dạng phát triển cao nhất của cả một loạt
    các nhạc cụ họ hơi có lưỡi gà rung tự do. Đây là nhạc cụ phổ biến của nhóm Thái Đen
    ở vùng Yên Châu. Khèn bè được tạo bởi 14 ống nứa tép, các ống được xếp thành hai
    hàng, mỗi hàng 7 ống, cách tạo bầu thổi, lỗ thổi rất tỉ mỉ, công phu. Khèn bè thường dùng
    để chơi nhạc đệm cho hát và chơi các bài nhạc múa.
    – Nghệ thuật biểu diễn Pí thiu (hay còn gọi là Pí khúi): Là loại nhạc cụ họ hơi, chi lỗ
    vòm. Pí thiu theo nguyên tắc phát âm như chiếc tiêu của người Kinh. Nhạc cụ này phổ
    biến ở vùng Thái Mộc Châu.
    * Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian dân tộc Mông
    Dân tộc Mông có các nhạc cụ như: Khèn, sáo, trống, chũm chọe, chuông, chiêng...
    Các nhạc cụ này có âm sắc riêng biệt đặc trưng.
    – Nghệ thuật biểu diễn khèn Mông: Là nhạc cụ, đồng thời cũng là đạo cụ múa, là vật
    linh thiêng trong các nghi lễ, lễ hội của người Mông.
    – Nghệ thuật biểu diễn sáo Mông: Gồm có sáo ngang (chang play) và sáo dọc (chang
    pu lâu lế), là nhạc cụ thuộc họ hơi, được làm bằng cây măng dê, cây nứa có độ dày nhất
    định, gióng dài, đều và dẻo. Sáo thường được sử dụng vào các dịp vui chơi tết lễ, đệm
    để hát lúc trên nương, trong rừng, đi chơi gọi bạn.
    Ngoài hai loại trên, nhạc cụ dân gian của dân tộc Mông còn phải kể đến đàn môi
    (chang lang), chiêng (trùa), quả chuông (chư nênh), trống, khèn lá...
    * Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian dân tộc Dao
    Dân tộc Dao có nhiều loại nhạc cụ: trống, thanh la (chiêng), tù và,... đặc biệt là chuông
    được sử dụng phổ biến trong các nghi lễ cũng như làm nhạc đệm, đạo cụ cho các điệu
    múa. Nhạc cụ của dân tộc Dao được sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ, ít được dùng làm
    nhạc đệm để hát. Gồm có:
    – Nghệ thuật biểu diễn trống: Trống của người Dao cũng giống như trống các dân tộc
    khác, nhưng có kích thước nhỏ, đặc biệt mặt trống được gông cho căng bằng hệ thống
    dăm gỗ cài sít vào nhau ở cả hai bên mặt trống, vừa tạo độ căng, chắc cho mặt trống, vừa
    tạo thẩm mỹ riêng. Trống được sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ, là nhạc cụ không thể
    thiếu trong bộ đồ cúng của các thầy cúng người Dao.
    – Nghệ thuật biểu diễn chuông: Có hai loại chuông, chuông to và chuông nhỏ. Chuông
    nhỏ vừa dùng trong các lễ nghi, vừa dùng làm nhạc cụ, đạo cụ trong các điệu múa.
    Chuông to chỉ dùng cho các thầy cúng gõ trong các lễ nghi.
    Ngoài hai nhạc cụ kể trên còn có nom dặt (nhạc cụ họ hơi, làm từ đồng), thanh la (hình
    dáng giống chiêng nhưng nhỏ hơn), tù và (làm bằng sừng trâu)... được sử dụng khá phổ
    biến trong đời sống cũng như các nghi lễ của dân tộc Dao.

    Hãy vẽ hoặc biểu diễn một loại nhạc cụ mà em yêu thích.
    c) Múa dân gian
    Sơn La được mệnh danh là vùng “đất múa”, vì nơi đây có một kho tàng nghệ thuật múa
    dân gian vô cùng phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc của các dân tộc.
    * Múa dân gian dân tộc Thái
    Trước đây, người Thái gọi nghệ thuật múa của mình là “xe”: “xe khăn” – múa khăn,

    8

    “xe cúp” – múa nón, “xe vi” – múa quạt, “xe má hính” – múa quả nhạc... “điệu xe, bài xe”
    là điệu múa, bài múa. Đến giữa thế kỷ XX, trong tiếng Việt, từ “xe” biến âm thành “xòe”.
    Ngày nay, nghệ thuật múa, tác phẩm múa được nhân dân quen dùng để gọi nghệ thuật
    xòe, điệu xòe, bài xòe.
    Đến nay, người ta đã thống kê được 32 điệu múa đặc sắc trong kho tàng múa dân tộc
    Thái, trong đó có các điệu như: Xoè vòng, xoè chá, xoè khăn, xoè quạt, xoè nón... Người
    Thái thường tổ chức xoè trong các hoạt động như: Xên bản (cúng bản), Xên mường (cúng
    mường), Kin pang Then, Hết chá, mừng cơm mới, mừng nhà mới, đám cưới, Tết, hội
    diễn... "Không xoè cây lúa không trổ bông, không xoè cây ngô không ra bắp, không xoè
    trai gái không thành đôi...", câu dân ca đã khẳng định vai trò của xoè trong đời sống dân
    tộc Thái. Với giá trị nhân văn vô cùng đặc sắc, ngày 15-12-2021, nghệ thuật Xoè Thái đã
    được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
    * Múa dân gian của dân tộc Mông
    Người Mông có điệu múa đặc sắc nhất là múa khèn. Nghệ thuật trình diễn dân gian của
    người Mông gắn với chiếc khèn với ngôn ngữ múa ngẫu hứng mang đậm bản sắc văn hoá
    dân gian của dân tộc Mông. Người múa thể hiện cảm xúc say sưa sáng tạo, nội tâm mạnh mẽ.
    Động tác múa khèn rất đa dạng, phong phú: múa nhảy đưa chân, quay đổi chỗ, quay tại chỗ,
    vờn khèn, lăn nghiêng, lăn ngửa, múa ngồi xổm, đi tiến, đi lùi theo bốn hướng, mỗi bước tiến,
    bước lùi làm sao chỉ để chân này chạm gót chân kia. Động tác cơ bản là khom lưng, quay hất
    gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoắn ốc..., với
    tốc độ càng nhanh càng điêu luyện. Đối với các bài khèn vui chơi thì động tác nhảy, múa mãnh
    liệt, phóng khoáng và khó hơn, như lăn nghiêng, lăn ngửa, đá gà, đá ngựa, nhảy ngồi xổm, tay
    nọ vỗ vào chân kia, tay kia vỗ vào chân nọ, tiếng vỗ phải kêu, mà tiếng khèn vẫn không dứt.
    Thổi sáo và múa khèn không chỉ thể hiện sự tài hoa, khéo léo của người đàn ông Mông mà
    qua đó còn thể hiện sức sống mạnh mẽ, ý chí vươn lên, tinh thần thượng võ của người Mông.
    * Múa dân gian của dân tộc Dao
    Điệu múa dân gian phổ biến nhất của người Dao là múa chuông (người Dao gọi là xòe
    chuông). Đối với người Dao, trong các cuộc vui ai cũng có thể tham gia múa chuông: già,
    trẻ, nam, nữ. Người múa thường đứng thành vòng tròn, tay trái cầm một que tre nhỏ và tay
    phải cầm một chiếc chuông nhỏ, cùng với động tác đưa chân, xoay vòng thì hai tay cũng
    được vung lên tạo thành điệu múa mềm mại cùng âm thanh trong trẻo của chiếc chuông.
    Không chỉ các dân tộc Thái, Mông, Dao mà các dân tộc khác sinh sống trên địa bàn tỉnh
    Sơn La cũng có những điệu múa mang đậm bản sắc của dân tộc mình: Dân tộc Mường có
    hàng chục điệu múa cổ như: múa đâm đuống, múa đâm trống đồng, múa quạt cọ, múa kiếm,
    múa cờ, múa nàng Khọt, múa chúc phúc, nhảy sạp... Người Khơ Mú có điệu múa lắc hông
    Veelr guông truyền thống, múa sạp, múa xòe vòng, múa hưn mạy, múa tăng bu... Người
    Kháng cũng có điệu múa tăng bu, múa sạp, múa xòe vòng giống như đồng bào Thái… Người
    La Ha có điệu múa phổ biến nhất là tăng bu, ngoài ra có múa khăn. Người Lào có điệu xả la
    lăm vông nổi tiếng với các bài hát và múa như: Hoa Chămpa, Lăm tơi...

    Trong các tác phẩm múa dân gian của đồng bào các dân tộc, em thích nhất điệu
    múa nào? Hãy giải thích tại sao lại thích điệu múa đó và nếu có thể em hãy biểu
    diễn một đoạn trong điệu múa mà em yêu thích.

    9

    LUYỆN TẬP
    Chọn một trong 2 hình thức để triển khai:
    1. Hãy liệt kê những nét đặc sắc về nghệ thuật truyền thống của một số dân tộc ở tỉnh
    Sơn La theo gợi ý sau:
    Một số dân tộc ở Sơn La
    Nghệ thuật dân tộc Thái
    Nghệ thuật dân tộc Mông
    Nghệ thuật dân tộc Dao
    ... Nghệ thuật dân tộc

    Nội dung tổng hợp

    Nét đặc sắc

    Dân ca - âm nhạc dân tộc Thái

    ...

    Múa dân tộc Thái

    ...

    Dân ca - âm nhạc dân tộc Mông

    ...

    Múa dân tộc Mông

    ...

    Dân ca - âm nhạc dân tộc Dao

    ...

    Múa dân tộc Dao

    ...

    ...

    ...

    ...

    ...

    2. Chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm lên kế hoạch tham quan, tìm hiểu về một loại
    hình nghệ thuật truyền thống ở Sơn La.
    Gợi ý nội dung trong lập kế hoạch
    – Loại hình nghệ thuật
    – Địa điểm, thời gian
    – Nội dung tìm hiểu
    – Phương tiện, dụng cụ phục vụ cho hoạt động tìm hiểu
    – Phương tiện đi lại
    –…

    VẬN DỤNG
    1. Dựa trên kết quả học tập ở mục Luyện tập về việc tìm hiểu một loại hình nghệ
    thuật truyền thống ở tỉnh Sơn La, mỗi nhóm học sinh thể hiện kết quả tìm hiểu dưới
    dạng hình ảnh theo video clip, dán, vẽ trên giấy khổ Ao hoặc slide trình chiếu… và trình
    bày trước lớp.
    2. Chia lớp thành 8 – 10 nhóm học sinh, mỗi nhóm thể hiện một điệu múa, bài hát
    hoặc nhạc cụ gắn liền với địa phương mình.

    10

    CHỦ ĐỀ

    2

    MỘT SỐ GƯƠNG MẶT NHÀ VĂN,
    NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI TỈNH SƠN LA

    Mục tiêu
    – Nhận biết được một số gương mặt văn học hiện đại của tỉnh Sơn La.
    – Nêu được những đóng góp của một số nhà văn, nhà thơ hiện đại Sơn La cho nền
    văn học.
    – Trân trọng, tự hào về những nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của quê hương Sơn La.

    MỞ ĐẦU
    Đóng góp vào hành trình kiến tạo văn hoá của tỉnh Sơn La phải kể đến những gương
    mặt nhà văn, nhà thơ hiện đại ở Sơn La. Với tình yêu quê hương, họ vừa tiếp nối truyền
    thống văn học dân gian của dân tộc, vừa sáng tạo và cách tân tạo nên những nét đặc sắc,
    hình thành diện mạo mới cho nền văn học tỉnh Sơn La.

    1. Kể tên những nhà văn, nhà thơ và tên một số tác phẩm của nhà văn,
    nhà thơ ở Sơn La mà em biết.
    2. Quan sát những hình ảnh dưới đây và chia sẻ những thông tin mà em biết
    về cuộc đời, sáng tác của các nhà văn, nhà thơ đó.

    Hình 2.1. Nhà thơ
    Cầm Biêu

    Hình 2.2. Nhà thơ,
    nhà văn Hoàng Nó

    Hình 2.3. Nhà văn
    Sa Phong Ba

    Hình 2.4. Nhà văn
    Kiều Duy Khánh

    11

    KIẾN THỨC MỚI
    1. Một số vấn đề chung về văn học hiện đại của tỉnh Sơn La
    Về lịch sử phát triển, văn học hiện đại tỉnh Sơn La cũng nằm trong dòng chảy lịch sử
    của văn học Việt Nam hiện đại, cũng được hình thành từ đầu thế kỉ XX, song chính thức
    trở thành một dòng chảy lớn khi có sự xuất hiện của một thế hệ nhà văn trưởng thành
    sau cách mạng tháng Tám. Về nội dung, văn học hiện đại tỉnh Sơn La vừa bám sát những
    bước đi của hai cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng đất nước, vừa phản ánh sinh
    động cuộc sống, tâm hồn, tình cảm phong phú của đồng bào các dân tộc tỉnh Sơn La, có
    bản sắc riêng. Có thể khái quát một số đặc điểm của nền văn học hiện đại tỉnh Sơn La
    như sau:
    – Văn học hiện đại tỉnh Sơn La là một bộ phận đặc sắc của văn học hiện đại Việt Nam.
    – Văn học hiện đại Sơn La thể hiện tính song hành giữa văn học viết tiếng Việt với văn
    học tiếng dân tộc; văn học bác học với văn học dân gian.
    – Văn học hiện đại Sơn La mang đậm bản sắc các dân tộc anh em.

    2. Một số gương mặt nhà văn hiện đại của Sơn La
    Văn học hiện đại tỉnh Sơn La có tính dân tộc đặc sắc, thể hiện qua một số tác giả tiêu
    biểu như: Cầm Biêu, Hoàng Nó, Sa Phong Ba, Kiều Duy Khánh,...
    a) Nhà thơ Cầm Biêu
    Cố nhà thơ Cầm Biêu (1920 - 1997) dân tộc Thái, sinh ra trên mảnh đất Mường Chanh,
    Mai Sơn, Sơn La. Kho tàng văn hoá đồ sộ của dân tộc Thái qua các hoạt động văn hóa
    dân gian, cuộc sống hàng ngày đã chắt chiu, vun đắp tâm hồn nhà thơ.
    Giai đoạn mới sáng tác, thơ Cầm Biêu đi vào lòng người bằng những lời ca tuyên
    truyền, về sau, thơ ông ngày càng sâu sắc, giàu tính triết lí hơn. Được các chiến sĩ
    cộng sản giác ngộ, trưởng thành trong
    kháng chiến, nhà thơ Cầm Biêu chính
    là một trong những người có công đầu
    xây đắp nền văn học Sơn La từ thời kì
    đầu kháng chiến chống Pháp.
    Cuộc đời hoạt động cách mạng
    và sáng tác thơ ca của nhà thơ Cầm
    Biêu hoà quyện; ông vừa là nhà quản
    lý văn hoá văn nghệ của Đảng, vừa là
    Hình 2.5. Một số tác phẩm của nhà thơ Cầm Biêu

    12

    nhà thơ dân tộc. Trong suốt cuộc đời,

    ông đã say sưa viết không biết mệt mỏi, tâm hồn ông
    như cánh chim giữa núi rừng ngày càng sải cánh.
    Năm 1982, Ty Văn hoá và Thông tin Sơn La đã tập
    hợp một số sáng tác thơ của ông và xuất bản tập thơ
    “Cầu vào bản”.
    Thơ Cầm Biêu giàu hình ảnh, ý thơ hàm xúc, ngôn
    ngữ mộc mạc, giản dị. Ông là nhà thơ dân tộc đầu
    tiên có những đóng góp quan trọng đối với văn học
    vùng Tây Bắc. Nhà thơ dân tộc Thái Cầm Biêu luôn
    mãi là một trong những nhà thơ cách mạng người
    dân tộc đầu tiên, nhà thơ lớn của vùng Tây Bắc.
    Hình 2.6. Bìa tập thơ “Cầu vào bản”

    b) Nhà văn, nhà thơ Hoàng Nó
    Nhà văn, nhà thơ Hoàng Nó tên thật là Cầm Văn Lương,
    sinh năm 1925 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, dân tộc Thái,
    mất năm 2000. Ông nguyên là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
    Ông từng giữ chức vụ Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh
    uỷ Sơn La.
    Các tác phẩm chin
    ́ h của ông có thể kể đến: Diễn ca khu tự
    trị (1954), Lòng dân miền núi (thơ, 1957), Tiếng hát Mường
    Hoa Ban (thơ, 1987), Vượt sông Đà (hồi ký, 1993), dịch Nghìn
    Hình 2.7. Nhà văn,
    nhà thơ Hoàng Nó

    lẻ một đêm từ tiếng Việt ra tiếng Thái và nhiều công trin
    ̀ h
    nghiên cứu dịch thuật từ

    tiếng Thái ra tiếng Việt. Thơ văn Hoàng Nó thể hiện
    những tin
    ̀ h cảm chân thành của một con người hết
    lòng theo cách mạng. Sáng tác của Hoàng Nó hầu
    hết được viết bằng tiếng Thái. Đó là những lời ca sâu
    lắng, thiêng liêng, bền chặt nghĩa Đảng, tin
    ̀ h dân. Về
    bút pháp, thơ văn Hoàng Nó thường có lối kể, tả cụ
    thể, hin
    ̀ h ảnh so sánh, ví von giản dị, gần gũi.
    Thơ văn Hoàng Nó theo sát bước đi của sự nghiệp
    cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Sơn La. Ông là
    người đặt nền móng cho văn học cách mạng ở Sơn
    La. Cảm hứng xuyên suốt toàn bộ thơ văn Hoàng Nó
    là ca ngợi mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân.

    Hình 2.8. Bìa tác phẩm “Thơ văn
    Hoàng Nó”

    13

    c) Nhà văn Sa Phong Ba
    Nhà văn Sa Phong Ba tên thật là Sa Viết Sọi, sinh
    năm 1948 tại Bắc Yên, Sơn La, dân tộc Thái. Năm
    1973, tốt nghiệp Trường Đại học Tuyên giáo Trung
    ương (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền), Sa
    Viết Sọi về công tác ở Đài Phát thanh Khu tự trị Tây
    Bắc. Sau đó ông về là phóng viên Báo Sơn La với chức
    Hình 2.9. Một số tác phẩm của
    nhà văn Sa Phong Ba

    vụ cao nhất là Phó phòng Biên tập và tới năm 1986 thì
    ông nghỉ chế độ.

    Những tác phẩm chin
    ́ h: Những bông ban tím (tập truyện ngắn, 1983), Vùng đồi gió
    quẩn (tập truyện ngắn, 1995), Giữ lấy rừng vàng (kịch), Lặng lẽ Phiêng Côn (bút ký),
    Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (tập truyện ngắn)... Sa Phong Ba có sở trường đi sâu vào
    những vấn đề thế sự, đổi mới cách làm ăn kinh tế, tinh thần dám nghi ̃ dám làm của bà con
    vùng cao, những cách ứng xử trong tập thể... Nhiều truyện ngắn của ông có xu hướng
    trào phúng qua việc xây dựng những tin
    ̀ h huống bất ngờ, thâm thúy. Phần lớn các nhân
    vật của ông là những người nông dân lao động miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số. Ông
    có biệt tài khai thác nội tâm nhân vật thông qua những hành động, cử chi,̉ lời ăn tiếng nói
    của nhân vật.
    Năm 1997, Sa Phong Ba được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ông còn là hội viên
    Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật
    Sơn La, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
    d) Nhà văn Kiều Duy Khánh
    Kiều Duy Khánh là một nhà văn trẻ của tỉnh Sơn La, sinh
    năm 1980, quê gốc ở huyện Thạch Thất, Hà Nội, nhưng sinh
    ra, lớn lên và gắn bó sâu sắc với mảnh đất Sơn La. Với năng
    khiếu kể chuyện và một tình yêu đặc biệt dành cho núi rừng,
    cuộc sống con người Sơn La, Kiều Duy Khánh đã trở thành
    một nhà văn trẻ có nhiều thành tựu, ghi dấu ấn trong nền văn
    học hiện đại của tỉnh Sơn La.
    Ngòi bút Kiều Duy Khánh khá đa dạng, anh viết nhiều thể
    loại: truyện, tản văn, thơ ca, song đặc sắc nhất vẫn là truyện
    ngắn. Truyện của Kiều Duy Khánh có cốt truyện giản dị nhưng
    hấp dẫn người đọc bằng một ngôn ngữ giàu hình ảnh, thể hiện
    được khả năng khắc hoạ không gian thiên nhiên, đời sống phong tục tập quán, tâm linh
    đặc biệt của người Tây Bắc. “Gió vẫn thổi giữa rừng”, “Nắng cuối rừng”, “Trở về với núi”...

    14

    là những truyện ngắn tiêu biểu nhất của Kiều Duy Khánh, cất tiếng nói cho thân phận con
    người miền núi nhỏ bé bình dị, để lại nhiều suy tư sâu sắc cho người đọc.
    Với nhiều tác phẩm hay, đặc sắc, thu hút độc giả, tác giả Kiều Duy Khánh đã đoạt
    nhiều giải thưởng lớn. Từ năm 2017 đến nay, Kiều Duy Khánh là một trong số ít tác giả
    của Sơn La có tác phẩm truyện ngắn được đăng trong tập truyện ngắn hay của NXB Văn
    học và NXB Hội Nhà văn Việt Nam, trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước. Kiều Duy
    Khánh là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc
    thiểu số Việt Nam.

    Em hãy lập bảng tổng hợp những thông tin chính về các gương mặt văn học
    hiện đại của Sơn La theo mẫu dưới đây:
    STT

    Tác giả

    1

    Nhà thơ Cầm Biêu

    Tiểu sử của
    tác giả
    ...

    2

    Nhà văn Sa Phong Ba

    ...

    ...

    ...

    3

    Nhà văn, nhà thơ Hoàng Nó ...

    ...

    ...

    4

    Nhà văn Kiều Duy Khánh

    ...

    ...

    ...

    Đóng góp của Tác phẩm
    tác giả
    tiêu biểu
    ...
    ...

    LUYỆN TẬP
    1. Chia lớp theo nhóm trình bày về tiểu sử, đóng góp của nhà văn hoặc nhà thơ hiện đại
    ở địa phương em theo gợi ý sau:
    – Nhà thơ Cầm Biêu
    – Nhà văn nhà thơ Hoàng Nó.
    – ...
    2. Hãy đọc văn bản sau (trích tản văn "Măng đắng cuối mùa" của nhà văn Kiều Duy Khánh)
    và viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Sơn La.
    "...Sau tết, khi trận mưa mới đem theo tiếng sấm đầu mùa ùng ùng chạy dọc trên mái
    nhà, chạy ngang ngoài ruộng mạ thì những chiếc măng đắng trong rừng vươn mình đội
    đất chui lên. Tiếng sấm gọi măng dậy. Tiếng sấm truyền cho măng cái hồn, cái tính, cái
    đắng. Măng ùn ùn vươn lớn. Những tai măng như những chiếc tai dúi dỏng lên mà nghe
    sấm, đón mưa.
    Rồi thì cái vị ngọt của măng sẽ chuyển dần sang vị đắng. Lúc đầu còn nhằng nhặng,
    sau rồi đắng giòn, đắng dai. Bữa cơm tối chỉ đĩa măng luộc bổ bốn, vài cái măng nướng

    15

    bổ đôi. Chấm miếng măng vào bát chẳm chéo, rồm rộp nhai. Vị đắng đến ù tai, đến xoắn
    lưỡi, thế mà thấy ngon, thấy thích, thấy nhớ. Thấy thèm đến cồn cào khi một mùa măng
    nào đó phải xa núi, xa nhà.
    Cũng có người không ưa vị đắng gắt, nhưng lại vẫn thèm cảm giác giòn rụm, ngọt lử
    của cái măng đầu mùa, thì đã có lá Phắc mạ non, một loại lá có vị chát nhất trong các loại
    lá chát. Lúc này, ven bờ suối, cây Phắc mạ đã bung ra những chùm lá mơn mởn, bóng
    nhẫy, tím ngắt. Hái chùm lá về, cuốn tròn quanh miếng măng, chấm vào bát chẳm chéo,
    đưa lên miệng, nhòm nhèm nhai. Thấy vị đắng chỉ còn mỏng như vệt sương chiều, vị
    ngọt giòn đậm đà như măng đầu vụ xen lẫn vị bùi của lá chát, vị cay xé của quả ớt rừng,
    vị thơm tê lưỡi của quả mắc khén, vị mặn mòi của muối. Ăn miếng măng trong bữa cơm
    chiều ấm áp mà thấy đủ cả những ngọt bùi đắng cay.
    Cây Phắc mạ chỉ mọc ven suối, măng đắng ưa sống ở núi cao. Ai đã nhận ra mối lương
    duyên của chúng? Cũng không biết nữa. Những kinh nghiệm quý thì đời trước bảo cho
    đời sau, đời sau truyền cho đời sau… cứ thế...".
    (Những đôi môi cười – Tập Tản văn, nhiều tác giả, NXB Hội nhà văn, 2022, tr.107-109)

    VẬN DỤNG
    Sưu tầm tư liệu (bài báo, tranh ảnh, video,...) hoặc thực hiện một phóng sự về cuộc
    đời, tác phẩm của một nhà văn, nhà thơ tiêu biểu.

    16

    CHỦ ĐỀ

    3

    MỘT SỐ NHÂN VẬT LỊCH SỬ
    TIÊU BIỂU Ở TỈNH SƠN LA

    Mục tiêu
    – Kể tên được một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở tỉnh Sơn La.
    – Trình bày được những nét khái quát về tiểu sử, hoạt động và những đóng góp của
    một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở tỉnh Sơn La.
    – Tự hào về truyền thống đấu tranh và lao động của người dân tỉnh Sơn La.
    – Thực hiện được những việc làm thể hiện trách nhiệm của công dân với bản thân,
    gia đình, quê hương.

    MỞ ĐẦU
    Sơn La là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng. Trong suốt chiều dài lịch sử, những
    người con ưu tú ở Sơn La đã đóng góp công sức, xương máu góp phần viết nên lịch sử
    địa phương và lịch sử dân tộc. Trong những tấm gương ấy có thể kể đến một số nhân vật
    lịch sử tiêu biểu như: Anh hùng – Liệt sĩ Lò Văn Giá, ông Tráng Lao Khô, Anh hùng
    Đinh Đức Dừa, Anh hùng lao động Vì Văn Ỏm.

    Nêu hiểu biết của em về những nhân vật lịch sử kể trên?
    Kể tên những nhân vật lịch sử ở Sơn La mà em biết.

    KIẾN THỨC MỚI
    1. Anh hùng, liệt sĩ Lò Văn Giá
    Lò Văn Giá (1919 – 1943), dân tộc Thái, sinh
    ra trong một gia đình nông dân nghèo ở bản Cọ –
    Châu Mường La (nay là phường Chiềng An, thành
    phố Sơn La).
    Anh Giá là một trong những thanh niên tiên phong
    trong phong trào tuyên truyền, vận động nhân dân
    địa phương đấu tranh chống lại chế độ bóc lột của
    thực dân Pháp. Nhờ thông thạo địa hình Sơn La cùng
    tinh thần giác ngộ, sự mưu trí, dũng cảm, Lò Văn Giá
    được Chi bộ nhà tù Sơn La tin tưởng và giao trọng
    trách dẫn đường cho đoàn tù nhân chính trị vượt ngục

    Hình 3.1. Anh hùng, liệt sĩ Lò Văn Giá
    (1919 – 1943)

    17

    năm 1943. Đây là cuộc vượt ngục duy nhất do Chi bộ nhà tù Sơn La tổ chức, có ý nghĩa vô
    cùng quan trọng đối với phong trào cách mạng của Sơn La. Cuộc vượt ngục đã được chuẩn
    bị suốt 2 năm để đưa 4 cán bộ cốt cán của cách mạng (Lưu Đức Hiểu, Nguyễn Văn Trân,
    Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh) về dưới xuôi lãnh đạo phong trào cách mạng.
    Thực dân Pháp chỉ đạo lực lượng tay sai địa phương truy lùng gắt gao đoàn cán bộ
    vượt ngục. Trải qua 9 ngày đêm gian khổ, thử thách, đoàn cán bộ được đưa về Hoà Bình
    an toàn. Cuộc vượt ngục thành công có sự đóng góp rất lớn của người dẫn đường – anh
    Lò Văn Giá.

    Em có biết
    Trong cuốn hồi kí “Hai lần vượt ngục”, đồng chí Trần Đăng Ninh viết về anh
    Lò Văn Giá như sau:
    “Anh thanh niên Thái đưa chúng tôi đến đây hết phận sự. Chúng tôi cùng anh
    từ biệt bùi ngùi cảm động. Thuyền xa, chúng tôi nhìn theo người thanh niên Thái
    và khắc tên Giá của anh vào lòng”.¹
    Trên đường trở về Sơn La, anh Giá bị thực dân Pháp bắt. Mặc dù bị tra tấn tàn bạo
    nhưng anh một lòng kiên trung, không khai nhận bất cứ thông tin gì liên quan đến tù nhân
    cộng sản nhà tù Sơn La. Không đủ chứng cứ kết tội, thực dân Pháp đưa anh vào rừng
    rồi thủ tiêu bí mật.
    Tấm gương hi sinh của liệt sĩ Lò Văn Giá không chỉ khắc sâu thêm mối thù với thực
    dân cướp nước mà còn là nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với đồng bào các dân tộc tỉnh
    Sơn La trong c...
     
    Gửi ý kiến