Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tài liệu giáo dục địa phương 11- Sơn La

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Đào Thị Trà
Ngày gửi: 10h:02' 20-08-2025
Dung lượng: 21.0 MB
Số lượt tải: 34
Người gửi: Đào Thị Trà
Ngày gửi: 10h:02' 20-08-2025
Dung lượng: 21.0 MB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích:
0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nguyễn Huy Hoàng (Chủ biên)
Vũ Thị Hồng Mai – Hà Thị Thư
Vương Thị Phương Hạnh – Nguyễn Hoài Thu – Nguyễn Hoàng Mai
Tài liệu Giáo dục địa phương
TỈNH SƠN LA
Lớp
11
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
Mỗi chủ đề trong Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Sơn La lớp 11 được tổ chức thành
bốn hoạt động cụ thể sau:
MỞ ĐẦU
Tìm hiểu và hình thành nhận thức
ban đầu về nội dung bài học.
KIẾN THỨC MỚI
Cung cấp kiến thức phù hợp với nội
dung bài học và hình thành kĩ năng.
LUYỆN TẬP
Củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng
và ghi nhớ nội dung yêu cầu cần đạt.
VẬN DỤNG
Vận dụng kiến thức, kĩ năng vào trải
nghiệm và ứng dụng thực tế.
Câu hỏi
Câu hỏi gợi mở tìm hiểu bài, lĩnh hội
kiến thức mới.
Hãy bảo quản, giữ gìn sách giáo khoa để dành tặng
các em học sinh lớp sau!
LỜI NÓI ĐẦU
Theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, nội dung giáo dục
địa phương là những vấn đề cơ bản và thời sự về địa phương như: Văn
hoá, lịch sử truyền thống; các vấn đề về địa lý, kinh tế, hướng nghiệp; các
vấn đề về chính trị – xã hội, môi trường. Mục tiêu của tài liệu nhằm bổ sung
cho nội dung giáo dục bắt buộc thống nhất trong cả nước, trang bị cho học
sinh những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu
quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học để góp phần
giải quyết những vấn đề của quê hương.
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Sơn La lớp 11 được biên soạn theo
Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành, bảo đảm tính cơ bản, khoa học thiết thực và phù hợp
với thực tiễn tỉnh Sơn La.
Nội dung chính của Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Sơn La lớp 11 bao
gồm các kiến thức về địa phương như: Một số loại hình nghệ thuật dân
gian ở tỉnh Sơn La; Một số gương mặt nhà văn, nhà thơ hiện đại của tỉnh
Sơn La; Một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở tỉnh Sơn La; Phát triển ngành
công nghiệp ở tỉnh Sơn La; Phát triển ngành dịch vụ ở tỉnh Sơn La; Phát
triển công nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh Sơn La; Chính sách
phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Sơn La; Tác động của một số hoạt động
sản xuất ở địa phương đến môi trường.
Mỗi bài học được biên soạn theo bốn phần: Mở đầu – Kiến thức
mới – Luyện tập – Vận dụng. Kết cấu này phù hợp với khả năng lĩnh hội
kiến thức và thuận tiện cho việc tổ chức dạy – học, góp phần hình thành
và phát triển năng lực theo đúng yêu cầu đặt ra của chương trình giáo dục
phổ thông cấp trung học phổ thông.
Chúc các em học tập vui, thu nhận thêm nhiều kiến thức về địa phương,
biết yêu quý và có ý thức xây dựng, phát triển quê hương mình ngày càng
giàu đẹp!
Ban biên soạn
3
MỤC LỤC
Chủ đề
4
Nội dung
Trang
1
MỘT SỐ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT DÂN GIAN TIÊU BIỂU
Ở TỈNH SƠN LA
5
2
MỘT SỐ GƯƠNG MẶT NHÀ VĂN, NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI TỈNH SƠN LA
11
3
MỘT SỐ NHÂN VẬT LỊCH SỬ TIÊU BIỂU Ở TỈNH SƠN LA
17
4
PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TỈNH SƠN LA
24
5
PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ TỈNH SƠN LA
30
6
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH SƠN LA
39
7
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH SƠN LA
45
8
TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT Ở ĐỊA PHƯƠNG
ĐẾN MÔI TRƯỜNG
51
CHỦ ĐỀ
1
MỘT SỐ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
DÂN GIAN TIÊU BIỂU Ở TỈNH SƠN LA
Mục tiêu
– Trình bày được khái niệm nghệ thuật dân gian và nhận biết được một số loại hình
nghệ thuật dân gian tiêu biểu ở tỉnh Sơn La.
– Mô tả và giới thiệu được loại hình nghệ thuật dân gian của một số dân tộc ở tỉnh
Sơn La.
– Hình thành ý thức bảo tồn, có hành động gìn giữ các loại hình nghệ thuật dân
gian của các dân tộc ở tỉnh Sơn La.
MỞ ĐẦU
Nghệ thuật dân gian là một phần rất quan trọng trong nền văn hóa của mỗi dân tộc.
Trên đất nước Việt Nam, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có những loại hình nghệ thuật
dân gian riêng biệt và vô cùng đặc sắc, tạo nên bức tranh tổng hòa về nghệ thuật dân
gian Việt Nam đa dạng và quý giá.
Cho biết mỗi hình ảnh dưới đây thể hiện loại hình nghệ thuật dân gian nào, của
dân tộc nào ở tỉnh Sơn La.
Hình 1.1
Hình 1.2
Hình 1.3
5
KIẾN THỨC MỚI
1. Nghệ thuật dân gian là gì?
– Nghệ thuật dân gian là nghệ thuật do Nhân dân sáng tạo ra, đáp ứng nhu cầu của
Nhân dân và nói lên suy nghĩ, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân. Nghệ thuật dân gian
vừa có tính chất phác, hồn nhiên, ngẫu hứng, vừa quy củ theo kinh nghiệm chắt lọc từ
đời sống.
– Nghệ thuật dân gian bắt nguồn và phản ánh đời sống văn hoá của một cộng đồng dân
cư, gồm sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình thông qua nhiều hình thức như các loại
hình biểu diễn âm nhạc, biểu diễn múa,... Nghệ thuật dân gian độc đáo của Việt Nam có
nhiều loại hình như: chèo, tuồng, hát then, múa rối nước, hát xoan, ca trù, dân ca quan họ
Bắc Ninh,...
– Nghệ thuật dân gian truyền thống của Sơn La bắt nguồn từ đời sống hiện thực, đồng
thời phản ánh cuộc sống cũng như tâm hồn, tình cảm của các dân tộc sống trên địa bàn
tỉnh Sơn La.
2. Giới thiệu một số loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc ở Sơn La
a) Dân ca truyền thống
Dân ca là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đồng bào các dân tộc ở tỉnh
Sơn La. Dân ca dân gian ở Sơn La được biết đến khá đa dạng và phong phú:
* Dân ca dân tộc Thái
Dân ca cổ truyền của người Thái ở tỉnh Sơn La do những thế hệ người Thái sáng tác,
lưu truyền, trau chuốt và tiếp nối. Căn cứ vào chức năng xã hội - văn hoá của các thể loại,
dân ca của người Thái ở Sơn La được chia làm ba loại:
– Dân ca về các chặng của cuộc đời con người có thể nói đến như: hát trong lễ ra cữ (Nhá
bươn); hát ru (Khắp Ú lụh); hát giao duyên (Khắp báo xào); hát về hôn nhân (Khắp au phua
au mía); hát lên nhà mới (Khắp khửn hươn maứ); hát tang lễ (Khắp xống khoăn côn tài)…
– Dân ca gắn với các hoạt động văn hoá có liên quan đến thiên nhiên - siêu nhiên. Trong
lao động sản xuất có: hát trên cánh đồng (Khắp loong Tôoông), hát đồng dao của trẻ em
trên bãi chăn gia súc và các chòi lúa (Khắp xư đếch nọi). Trong hoạt động nông nghiệp có:
hát cầu mưa (Xo phôn), lễ ăn cốm và cơm mới (Kin khảu mảu- khảu maứ).
– Dân ca trong các hoạt động văn hoá liên quan đến lịch sử cộng đồng và tín ngưỡng
như: cúng Mường (Xên mường), cúng bản (Xên bản), cúng gia tiên (Xên hướn), hát cúng
chữa bệnh (Xên một láo)....
* Dân ca dân tộc Mông
Người Mông có một kho tàng văn nghệ dân gian rất phong phú và độc đáo, gồm truyện
cổ, dân ca, tục ngữ, câu đố... Có thể coi đó là những chỉnh thể nghệ thuật gồm cả phần lời,
phần âm nhạc và nghệ thuật diễn xướng. Về nội dung, có thể chia dân ca dân tộc Mông
thành ba loại:
– Dân ca gắn với nghi lễ và phong tục: những bài khấn khi đón đứa trẻ chào đời,
những bài ca trong lễ dạm hỏi và lễ mừng đám cưới.
6
– Dân ca gắn với những vấn đề xã hội:
Gồm những bài ca than thân trách phận mồ
côi, than thân trách phận làm dâu; hát ca (cứ
nìa, he tẩu) trong đám cưới; điệu khóc than
(nhía) trong đám tang.
– Dân ca gắn với tình yêu (hay còn gọi là
dân ca trữ tình, giao duyên): Đây là loại hình
chiếm số lượng lớn và cũng là tiêu biểu của
dân ca và âm nhạc dân gian dân tộc Mông.
* Dân ca dân tộc Dao
Hình 1.4. Biểu diễn văn nghệ của người
Mông ở xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên
Hiện nay, trong cộng đồng người Dao còn lưu giữ một kho tàng văn nghệ dân gian hết
sức phong phú. Các thể loại dân ca gồm các làn điệu hát giao duyên, đối đáp, hát ru, các
bài ca nghi lễ, cúng tế... Có thể nói sinh hoạt văn nghệ dân gian trong cộng đồng người
Dao cho đến nay vẫn giàu sức sống và giữ nguyên được nét truyền thống.
– Hát páo dung: là hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ, nội dung chính là đề cao cuộc
sống lao động, đạo đức, lẽ sống, cách ứng xử, tình yêu thiên nhiên, tình yêu lứa đôi…
– Hát ru: Có thể hát ở mọi nơi, mọi lúc nhưng chủ yếu hát ru con ở nhà.
– Hát ghẹo: Là một hình thức hát đối đáp nam nữ về tình yêu, về cuộc sống, thường
hát trong lúc lao động sản xuất hằng ngày, trong đám cưới, vào nhà mới, không gian diễn
xướng rộng.
– Các bài ca nghi lễ (chủ yếu là lễ cấp sắc), cúng tế: Là những bài ca có nội dung
cầu xin thần linh phù hộ cho người được cấp sắc; dạy con cháu về đạo đức, lẽ sống của
người Dao; cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi...
Trong các tác phẩm dân ca của các dân tộc ở tỉnh Sơn La mà em biết, em
thích nhất tác phẩm nào? Nếu có thể, hãy biểu diễn một đoạn trong tác phẩm
mà em yêu thích nhất.
b) Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian
Trong quá trình sinh sống, phát triển, mỗi dân tộc trên địa bàn tỉnh Sơn La đã có ý thức
chế tạo những loại nhạc cụ để độc tấu, hoà tấu hoặc đệm hát trong sinh hoạt văn hoá
cộng đồng.
* Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân tộc Thái
– Nghệ thuật chơi đàn tính tẩu: Theo tiếng Thái, "tính" có nghĩa là đàn, "tẩu" có nghĩa là
bầu. Cách gọi tính tẩu là để phân biệt với đàn bầu của người Kinh. Cây đàn tính tẩu gồm
ba bộ phận chính: thân đàn làm bằng gỗ, bầu đàn làm bằng nửa quả bầu khô, dây đàn
làm bằng tơ xe. Đây là một loại nhạc cụ thuộc họ dây, của nhóm Thái Trắng vùng Quỳnh
Nhai và cũng là nhạc cụ của nhóm Thái Trắng khác ở Lai Châu. Cây đàn này dùng để
đệm cho hát giao duyên và nhất là tấu nhạc cho múa.
– Nghệ thuật chơi Pí pặp và pí đôi: Là nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà rung tự do và là một
nhạc cụ rất phổ biến ở dân tộc Thái Đen Mường La, Mường Muổi, Mường Mụa. Pí pặp là
nhạc cụ của nam giới, dùng để chơi nhạc đệm cho bài hát của nữ giới. Hai chiếc Pí pặp có
cùng kích thước, cùng định âm, được buộc ghép song song với nhau sẽ tạo ra chiếc Pí đôi.
7
– Nghệ thuật biểu diễn khèn bè (Kén pé): Là dạng phát triển cao nhất của cả một loạt
các nhạc cụ họ hơi có lưỡi gà rung tự do. Đây là nhạc cụ phổ biến của nhóm Thái Đen
ở vùng Yên Châu. Khèn bè được tạo bởi 14 ống nứa tép, các ống được xếp thành hai
hàng, mỗi hàng 7 ống, cách tạo bầu thổi, lỗ thổi rất tỉ mỉ, công phu. Khèn bè thường dùng
để chơi nhạc đệm cho hát và chơi các bài nhạc múa.
– Nghệ thuật biểu diễn Pí thiu (hay còn gọi là Pí khúi): Là loại nhạc cụ họ hơi, chi lỗ
vòm. Pí thiu theo nguyên tắc phát âm như chiếc tiêu của người Kinh. Nhạc cụ này phổ
biến ở vùng Thái Mộc Châu.
* Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian dân tộc Mông
Dân tộc Mông có các nhạc cụ như: Khèn, sáo, trống, chũm chọe, chuông, chiêng...
Các nhạc cụ này có âm sắc riêng biệt đặc trưng.
– Nghệ thuật biểu diễn khèn Mông: Là nhạc cụ, đồng thời cũng là đạo cụ múa, là vật
linh thiêng trong các nghi lễ, lễ hội của người Mông.
– Nghệ thuật biểu diễn sáo Mông: Gồm có sáo ngang (chang play) và sáo dọc (chang
pu lâu lế), là nhạc cụ thuộc họ hơi, được làm bằng cây măng dê, cây nứa có độ dày nhất
định, gióng dài, đều và dẻo. Sáo thường được sử dụng vào các dịp vui chơi tết lễ, đệm
để hát lúc trên nương, trong rừng, đi chơi gọi bạn.
Ngoài hai loại trên, nhạc cụ dân gian của dân tộc Mông còn phải kể đến đàn môi
(chang lang), chiêng (trùa), quả chuông (chư nênh), trống, khèn lá...
* Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian dân tộc Dao
Dân tộc Dao có nhiều loại nhạc cụ: trống, thanh la (chiêng), tù và,... đặc biệt là chuông
được sử dụng phổ biến trong các nghi lễ cũng như làm nhạc đệm, đạo cụ cho các điệu
múa. Nhạc cụ của dân tộc Dao được sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ, ít được dùng làm
nhạc đệm để hát. Gồm có:
– Nghệ thuật biểu diễn trống: Trống của người Dao cũng giống như trống các dân tộc
khác, nhưng có kích thước nhỏ, đặc biệt mặt trống được gông cho căng bằng hệ thống
dăm gỗ cài sít vào nhau ở cả hai bên mặt trống, vừa tạo độ căng, chắc cho mặt trống, vừa
tạo thẩm mỹ riêng. Trống được sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ, là nhạc cụ không thể
thiếu trong bộ đồ cúng của các thầy cúng người Dao.
– Nghệ thuật biểu diễn chuông: Có hai loại chuông, chuông to và chuông nhỏ. Chuông
nhỏ vừa dùng trong các lễ nghi, vừa dùng làm nhạc cụ, đạo cụ trong các điệu múa.
Chuông to chỉ dùng cho các thầy cúng gõ trong các lễ nghi.
Ngoài hai nhạc cụ kể trên còn có nom dặt (nhạc cụ họ hơi, làm từ đồng), thanh la (hình
dáng giống chiêng nhưng nhỏ hơn), tù và (làm bằng sừng trâu)... được sử dụng khá phổ
biến trong đời sống cũng như các nghi lễ của dân tộc Dao.
Hãy vẽ hoặc biểu diễn một loại nhạc cụ mà em yêu thích.
c) Múa dân gian
Sơn La được mệnh danh là vùng “đất múa”, vì nơi đây có một kho tàng nghệ thuật múa
dân gian vô cùng phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc của các dân tộc.
* Múa dân gian dân tộc Thái
Trước đây, người Thái gọi nghệ thuật múa của mình là “xe”: “xe khăn” – múa khăn,
8
“xe cúp” – múa nón, “xe vi” – múa quạt, “xe má hính” – múa quả nhạc... “điệu xe, bài xe”
là điệu múa, bài múa. Đến giữa thế kỷ XX, trong tiếng Việt, từ “xe” biến âm thành “xòe”.
Ngày nay, nghệ thuật múa, tác phẩm múa được nhân dân quen dùng để gọi nghệ thuật
xòe, điệu xòe, bài xòe.
Đến nay, người ta đã thống kê được 32 điệu múa đặc sắc trong kho tàng múa dân tộc
Thái, trong đó có các điệu như: Xoè vòng, xoè chá, xoè khăn, xoè quạt, xoè nón... Người
Thái thường tổ chức xoè trong các hoạt động như: Xên bản (cúng bản), Xên mường (cúng
mường), Kin pang Then, Hết chá, mừng cơm mới, mừng nhà mới, đám cưới, Tết, hội
diễn... "Không xoè cây lúa không trổ bông, không xoè cây ngô không ra bắp, không xoè
trai gái không thành đôi...", câu dân ca đã khẳng định vai trò của xoè trong đời sống dân
tộc Thái. Với giá trị nhân văn vô cùng đặc sắc, ngày 15-12-2021, nghệ thuật Xoè Thái đã
được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
* Múa dân gian của dân tộc Mông
Người Mông có điệu múa đặc sắc nhất là múa khèn. Nghệ thuật trình diễn dân gian của
người Mông gắn với chiếc khèn với ngôn ngữ múa ngẫu hứng mang đậm bản sắc văn hoá
dân gian của dân tộc Mông. Người múa thể hiện cảm xúc say sưa sáng tạo, nội tâm mạnh mẽ.
Động tác múa khèn rất đa dạng, phong phú: múa nhảy đưa chân, quay đổi chỗ, quay tại chỗ,
vờn khèn, lăn nghiêng, lăn ngửa, múa ngồi xổm, đi tiến, đi lùi theo bốn hướng, mỗi bước tiến,
bước lùi làm sao chỉ để chân này chạm gót chân kia. Động tác cơ bản là khom lưng, quay hất
gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoắn ốc..., với
tốc độ càng nhanh càng điêu luyện. Đối với các bài khèn vui chơi thì động tác nhảy, múa mãnh
liệt, phóng khoáng và khó hơn, như lăn nghiêng, lăn ngửa, đá gà, đá ngựa, nhảy ngồi xổm, tay
nọ vỗ vào chân kia, tay kia vỗ vào chân nọ, tiếng vỗ phải kêu, mà tiếng khèn vẫn không dứt.
Thổi sáo và múa khèn không chỉ thể hiện sự tài hoa, khéo léo của người đàn ông Mông mà
qua đó còn thể hiện sức sống mạnh mẽ, ý chí vươn lên, tinh thần thượng võ của người Mông.
* Múa dân gian của dân tộc Dao
Điệu múa dân gian phổ biến nhất của người Dao là múa chuông (người Dao gọi là xòe
chuông). Đối với người Dao, trong các cuộc vui ai cũng có thể tham gia múa chuông: già,
trẻ, nam, nữ. Người múa thường đứng thành vòng tròn, tay trái cầm một que tre nhỏ và tay
phải cầm một chiếc chuông nhỏ, cùng với động tác đưa chân, xoay vòng thì hai tay cũng
được vung lên tạo thành điệu múa mềm mại cùng âm thanh trong trẻo của chiếc chuông.
Không chỉ các dân tộc Thái, Mông, Dao mà các dân tộc khác sinh sống trên địa bàn tỉnh
Sơn La cũng có những điệu múa mang đậm bản sắc của dân tộc mình: Dân tộc Mường có
hàng chục điệu múa cổ như: múa đâm đuống, múa đâm trống đồng, múa quạt cọ, múa kiếm,
múa cờ, múa nàng Khọt, múa chúc phúc, nhảy sạp... Người Khơ Mú có điệu múa lắc hông
Veelr guông truyền thống, múa sạp, múa xòe vòng, múa hưn mạy, múa tăng bu... Người
Kháng cũng có điệu múa tăng bu, múa sạp, múa xòe vòng giống như đồng bào Thái… Người
La Ha có điệu múa phổ biến nhất là tăng bu, ngoài ra có múa khăn. Người Lào có điệu xả la
lăm vông nổi tiếng với các bài hát và múa như: Hoa Chămpa, Lăm tơi...
Trong các tác phẩm múa dân gian của đồng bào các dân tộc, em thích nhất điệu
múa nào? Hãy giải thích tại sao lại thích điệu múa đó và nếu có thể em hãy biểu
diễn một đoạn trong điệu múa mà em yêu thích.
9
LUYỆN TẬP
Chọn một trong 2 hình thức để triển khai:
1. Hãy liệt kê những nét đặc sắc về nghệ thuật truyền thống của một số dân tộc ở tỉnh
Sơn La theo gợi ý sau:
Một số dân tộc ở Sơn La
Nghệ thuật dân tộc Thái
Nghệ thuật dân tộc Mông
Nghệ thuật dân tộc Dao
... Nghệ thuật dân tộc
Nội dung tổng hợp
Nét đặc sắc
Dân ca - âm nhạc dân tộc Thái
...
Múa dân tộc Thái
...
Dân ca - âm nhạc dân tộc Mông
...
Múa dân tộc Mông
...
Dân ca - âm nhạc dân tộc Dao
...
Múa dân tộc Dao
...
...
...
...
...
2. Chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm lên kế hoạch tham quan, tìm hiểu về một loại
hình nghệ thuật truyền thống ở Sơn La.
Gợi ý nội dung trong lập kế hoạch
– Loại hình nghệ thuật
– Địa điểm, thời gian
– Nội dung tìm hiểu
– Phương tiện, dụng cụ phục vụ cho hoạt động tìm hiểu
– Phương tiện đi lại
–…
VẬN DỤNG
1. Dựa trên kết quả học tập ở mục Luyện tập về việc tìm hiểu một loại hình nghệ
thuật truyền thống ở tỉnh Sơn La, mỗi nhóm học sinh thể hiện kết quả tìm hiểu dưới
dạng hình ảnh theo video clip, dán, vẽ trên giấy khổ Ao hoặc slide trình chiếu… và trình
bày trước lớp.
2. Chia lớp thành 8 – 10 nhóm học sinh, mỗi nhóm thể hiện một điệu múa, bài hát
hoặc nhạc cụ gắn liền với địa phương mình.
10
CHỦ ĐỀ
2
MỘT SỐ GƯƠNG MẶT NHÀ VĂN,
NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI TỈNH SƠN LA
Mục tiêu
– Nhận biết được một số gương mặt văn học hiện đại của tỉnh Sơn La.
– Nêu được những đóng góp của một số nhà văn, nhà thơ hiện đại Sơn La cho nền
văn học.
– Trân trọng, tự hào về những nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của quê hương Sơn La.
MỞ ĐẦU
Đóng góp vào hành trình kiến tạo văn hoá của tỉnh Sơn La phải kể đến những gương
mặt nhà văn, nhà thơ hiện đại ở Sơn La. Với tình yêu quê hương, họ vừa tiếp nối truyền
thống văn học dân gian của dân tộc, vừa sáng tạo và cách tân tạo nên những nét đặc sắc,
hình thành diện mạo mới cho nền văn học tỉnh Sơn La.
1. Kể tên những nhà văn, nhà thơ và tên một số tác phẩm của nhà văn,
nhà thơ ở Sơn La mà em biết.
2. Quan sát những hình ảnh dưới đây và chia sẻ những thông tin mà em biết
về cuộc đời, sáng tác của các nhà văn, nhà thơ đó.
Hình 2.1. Nhà thơ
Cầm Biêu
Hình 2.2. Nhà thơ,
nhà văn Hoàng Nó
Hình 2.3. Nhà văn
Sa Phong Ba
Hình 2.4. Nhà văn
Kiều Duy Khánh
11
KIẾN THỨC MỚI
1. Một số vấn đề chung về văn học hiện đại của tỉnh Sơn La
Về lịch sử phát triển, văn học hiện đại tỉnh Sơn La cũng nằm trong dòng chảy lịch sử
của văn học Việt Nam hiện đại, cũng được hình thành từ đầu thế kỉ XX, song chính thức
trở thành một dòng chảy lớn khi có sự xuất hiện của một thế hệ nhà văn trưởng thành
sau cách mạng tháng Tám. Về nội dung, văn học hiện đại tỉnh Sơn La vừa bám sát những
bước đi của hai cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng đất nước, vừa phản ánh sinh
động cuộc sống, tâm hồn, tình cảm phong phú của đồng bào các dân tộc tỉnh Sơn La, có
bản sắc riêng. Có thể khái quát một số đặc điểm của nền văn học hiện đại tỉnh Sơn La
như sau:
– Văn học hiện đại tỉnh Sơn La là một bộ phận đặc sắc của văn học hiện đại Việt Nam.
– Văn học hiện đại Sơn La thể hiện tính song hành giữa văn học viết tiếng Việt với văn
học tiếng dân tộc; văn học bác học với văn học dân gian.
– Văn học hiện đại Sơn La mang đậm bản sắc các dân tộc anh em.
2. Một số gương mặt nhà văn hiện đại của Sơn La
Văn học hiện đại tỉnh Sơn La có tính dân tộc đặc sắc, thể hiện qua một số tác giả tiêu
biểu như: Cầm Biêu, Hoàng Nó, Sa Phong Ba, Kiều Duy Khánh,...
a) Nhà thơ Cầm Biêu
Cố nhà thơ Cầm Biêu (1920 - 1997) dân tộc Thái, sinh ra trên mảnh đất Mường Chanh,
Mai Sơn, Sơn La. Kho tàng văn hoá đồ sộ của dân tộc Thái qua các hoạt động văn hóa
dân gian, cuộc sống hàng ngày đã chắt chiu, vun đắp tâm hồn nhà thơ.
Giai đoạn mới sáng tác, thơ Cầm Biêu đi vào lòng người bằng những lời ca tuyên
truyền, về sau, thơ ông ngày càng sâu sắc, giàu tính triết lí hơn. Được các chiến sĩ
cộng sản giác ngộ, trưởng thành trong
kháng chiến, nhà thơ Cầm Biêu chính
là một trong những người có công đầu
xây đắp nền văn học Sơn La từ thời kì
đầu kháng chiến chống Pháp.
Cuộc đời hoạt động cách mạng
và sáng tác thơ ca của nhà thơ Cầm
Biêu hoà quyện; ông vừa là nhà quản
lý văn hoá văn nghệ của Đảng, vừa là
Hình 2.5. Một số tác phẩm của nhà thơ Cầm Biêu
12
nhà thơ dân tộc. Trong suốt cuộc đời,
ông đã say sưa viết không biết mệt mỏi, tâm hồn ông
như cánh chim giữa núi rừng ngày càng sải cánh.
Năm 1982, Ty Văn hoá và Thông tin Sơn La đã tập
hợp một số sáng tác thơ của ông và xuất bản tập thơ
“Cầu vào bản”.
Thơ Cầm Biêu giàu hình ảnh, ý thơ hàm xúc, ngôn
ngữ mộc mạc, giản dị. Ông là nhà thơ dân tộc đầu
tiên có những đóng góp quan trọng đối với văn học
vùng Tây Bắc. Nhà thơ dân tộc Thái Cầm Biêu luôn
mãi là một trong những nhà thơ cách mạng người
dân tộc đầu tiên, nhà thơ lớn của vùng Tây Bắc.
Hình 2.6. Bìa tập thơ “Cầu vào bản”
b) Nhà văn, nhà thơ Hoàng Nó
Nhà văn, nhà thơ Hoàng Nó tên thật là Cầm Văn Lương,
sinh năm 1925 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, dân tộc Thái,
mất năm 2000. Ông nguyên là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Ông từng giữ chức vụ Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh
uỷ Sơn La.
Các tác phẩm chin
́ h của ông có thể kể đến: Diễn ca khu tự
trị (1954), Lòng dân miền núi (thơ, 1957), Tiếng hát Mường
Hoa Ban (thơ, 1987), Vượt sông Đà (hồi ký, 1993), dịch Nghìn
Hình 2.7. Nhà văn,
nhà thơ Hoàng Nó
lẻ một đêm từ tiếng Việt ra tiếng Thái và nhiều công trin
̀ h
nghiên cứu dịch thuật từ
tiếng Thái ra tiếng Việt. Thơ văn Hoàng Nó thể hiện
những tin
̀ h cảm chân thành của một con người hết
lòng theo cách mạng. Sáng tác của Hoàng Nó hầu
hết được viết bằng tiếng Thái. Đó là những lời ca sâu
lắng, thiêng liêng, bền chặt nghĩa Đảng, tin
̀ h dân. Về
bút pháp, thơ văn Hoàng Nó thường có lối kể, tả cụ
thể, hin
̀ h ảnh so sánh, ví von giản dị, gần gũi.
Thơ văn Hoàng Nó theo sát bước đi của sự nghiệp
cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Sơn La. Ông là
người đặt nền móng cho văn học cách mạng ở Sơn
La. Cảm hứng xuyên suốt toàn bộ thơ văn Hoàng Nó
là ca ngợi mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân.
Hình 2.8. Bìa tác phẩm “Thơ văn
Hoàng Nó”
13
c) Nhà văn Sa Phong Ba
Nhà văn Sa Phong Ba tên thật là Sa Viết Sọi, sinh
năm 1948 tại Bắc Yên, Sơn La, dân tộc Thái. Năm
1973, tốt nghiệp Trường Đại học Tuyên giáo Trung
ương (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền), Sa
Viết Sọi về công tác ở Đài Phát thanh Khu tự trị Tây
Bắc. Sau đó ông về là phóng viên Báo Sơn La với chức
Hình 2.9. Một số tác phẩm của
nhà văn Sa Phong Ba
vụ cao nhất là Phó phòng Biên tập và tới năm 1986 thì
ông nghỉ chế độ.
Những tác phẩm chin
́ h: Những bông ban tím (tập truyện ngắn, 1983), Vùng đồi gió
quẩn (tập truyện ngắn, 1995), Giữ lấy rừng vàng (kịch), Lặng lẽ Phiêng Côn (bút ký),
Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (tập truyện ngắn)... Sa Phong Ba có sở trường đi sâu vào
những vấn đề thế sự, đổi mới cách làm ăn kinh tế, tinh thần dám nghi ̃ dám làm của bà con
vùng cao, những cách ứng xử trong tập thể... Nhiều truyện ngắn của ông có xu hướng
trào phúng qua việc xây dựng những tin
̀ h huống bất ngờ, thâm thúy. Phần lớn các nhân
vật của ông là những người nông dân lao động miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số. Ông
có biệt tài khai thác nội tâm nhân vật thông qua những hành động, cử chi,̉ lời ăn tiếng nói
của nhân vật.
Năm 1997, Sa Phong Ba được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ông còn là hội viên
Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật
Sơn La, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
d) Nhà văn Kiều Duy Khánh
Kiều Duy Khánh là một nhà văn trẻ của tỉnh Sơn La, sinh
năm 1980, quê gốc ở huyện Thạch Thất, Hà Nội, nhưng sinh
ra, lớn lên và gắn bó sâu sắc với mảnh đất Sơn La. Với năng
khiếu kể chuyện và một tình yêu đặc biệt dành cho núi rừng,
cuộc sống con người Sơn La, Kiều Duy Khánh đã trở thành
một nhà văn trẻ có nhiều thành tựu, ghi dấu ấn trong nền văn
học hiện đại của tỉnh Sơn La.
Ngòi bút Kiều Duy Khánh khá đa dạng, anh viết nhiều thể
loại: truyện, tản văn, thơ ca, song đặc sắc nhất vẫn là truyện
ngắn. Truyện của Kiều Duy Khánh có cốt truyện giản dị nhưng
hấp dẫn người đọc bằng một ngôn ngữ giàu hình ảnh, thể hiện
được khả năng khắc hoạ không gian thiên nhiên, đời sống phong tục tập quán, tâm linh
đặc biệt của người Tây Bắc. “Gió vẫn thổi giữa rừng”, “Nắng cuối rừng”, “Trở về với núi”...
14
là những truyện ngắn tiêu biểu nhất của Kiều Duy Khánh, cất tiếng nói cho thân phận con
người miền núi nhỏ bé bình dị, để lại nhiều suy tư sâu sắc cho người đọc.
Với nhiều tác phẩm hay, đặc sắc, thu hút độc giả, tác giả Kiều Duy Khánh đã đoạt
nhiều giải thưởng lớn. Từ năm 2017 đến nay, Kiều Duy Khánh là một trong số ít tác giả
của Sơn La có tác phẩm truyện ngắn được đăng trong tập truyện ngắn hay của NXB Văn
học và NXB Hội Nhà văn Việt Nam, trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước. Kiều Duy
Khánh là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số Việt Nam.
Em hãy lập bảng tổng hợp những thông tin chính về các gương mặt văn học
hiện đại của Sơn La theo mẫu dưới đây:
STT
Tác giả
1
Nhà thơ Cầm Biêu
Tiểu sử của
tác giả
...
2
Nhà văn Sa Phong Ba
...
...
...
3
Nhà văn, nhà thơ Hoàng Nó ...
...
...
4
Nhà văn Kiều Duy Khánh
...
...
...
Đóng góp của Tác phẩm
tác giả
tiêu biểu
...
...
LUYỆN TẬP
1. Chia lớp theo nhóm trình bày về tiểu sử, đóng góp của nhà văn hoặc nhà thơ hiện đại
ở địa phương em theo gợi ý sau:
– Nhà thơ Cầm Biêu
– Nhà văn nhà thơ Hoàng Nó.
– ...
2. Hãy đọc văn bản sau (trích tản văn "Măng đắng cuối mùa" của nhà văn Kiều Duy Khánh)
và viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Sơn La.
"...Sau tết, khi trận mưa mới đem theo tiếng sấm đầu mùa ùng ùng chạy dọc trên mái
nhà, chạy ngang ngoài ruộng mạ thì những chiếc măng đắng trong rừng vươn mình đội
đất chui lên. Tiếng sấm gọi măng dậy. Tiếng sấm truyền cho măng cái hồn, cái tính, cái
đắng. Măng ùn ùn vươn lớn. Những tai măng như những chiếc tai dúi dỏng lên mà nghe
sấm, đón mưa.
Rồi thì cái vị ngọt của măng sẽ chuyển dần sang vị đắng. Lúc đầu còn nhằng nhặng,
sau rồi đắng giòn, đắng dai. Bữa cơm tối chỉ đĩa măng luộc bổ bốn, vài cái măng nướng
15
bổ đôi. Chấm miếng măng vào bát chẳm chéo, rồm rộp nhai. Vị đắng đến ù tai, đến xoắn
lưỡi, thế mà thấy ngon, thấy thích, thấy nhớ. Thấy thèm đến cồn cào khi một mùa măng
nào đó phải xa núi, xa nhà.
Cũng có người không ưa vị đắng gắt, nhưng lại vẫn thèm cảm giác giòn rụm, ngọt lử
của cái măng đầu mùa, thì đã có lá Phắc mạ non, một loại lá có vị chát nhất trong các loại
lá chát. Lúc này, ven bờ suối, cây Phắc mạ đã bung ra những chùm lá mơn mởn, bóng
nhẫy, tím ngắt. Hái chùm lá về, cuốn tròn quanh miếng măng, chấm vào bát chẳm chéo,
đưa lên miệng, nhòm nhèm nhai. Thấy vị đắng chỉ còn mỏng như vệt sương chiều, vị
ngọt giòn đậm đà như măng đầu vụ xen lẫn vị bùi của lá chát, vị cay xé của quả ớt rừng,
vị thơm tê lưỡi của quả mắc khén, vị mặn mòi của muối. Ăn miếng măng trong bữa cơm
chiều ấm áp mà thấy đủ cả những ngọt bùi đắng cay.
Cây Phắc mạ chỉ mọc ven suối, măng đắng ưa sống ở núi cao. Ai đã nhận ra mối lương
duyên của chúng? Cũng không biết nữa. Những kinh nghiệm quý thì đời trước bảo cho
đời sau, đời sau truyền cho đời sau… cứ thế...".
(Những đôi môi cười – Tập Tản văn, nhiều tác giả, NXB Hội nhà văn, 2022, tr.107-109)
VẬN DỤNG
Sưu tầm tư liệu (bài báo, tranh ảnh, video,...) hoặc thực hiện một phóng sự về cuộc
đời, tác phẩm của một nhà văn, nhà thơ tiêu biểu.
16
CHỦ ĐỀ
3
MỘT SỐ NHÂN VẬT LỊCH SỬ
TIÊU BIỂU Ở TỈNH SƠN LA
Mục tiêu
– Kể tên được một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở tỉnh Sơn La.
– Trình bày được những nét khái quát về tiểu sử, hoạt động và những đóng góp của
một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở tỉnh Sơn La.
– Tự hào về truyền thống đấu tranh và lao động của người dân tỉnh Sơn La.
– Thực hiện được những việc làm thể hiện trách nhiệm của công dân với bản thân,
gia đình, quê hương.
MỞ ĐẦU
Sơn La là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng. Trong suốt chiều dài lịch sử, những
người con ưu tú ở Sơn La đã đóng góp công sức, xương máu góp phần viết nên lịch sử
địa phương và lịch sử dân tộc. Trong những tấm gương ấy có thể kể đến một số nhân vật
lịch sử tiêu biểu như: Anh hùng – Liệt sĩ Lò Văn Giá, ông Tráng Lao Khô, Anh hùng
Đinh Đức Dừa, Anh hùng lao động Vì Văn Ỏm.
Nêu hiểu biết của em về những nhân vật lịch sử kể trên?
Kể tên những nhân vật lịch sử ở Sơn La mà em biết.
KIẾN THỨC MỚI
1. Anh hùng, liệt sĩ Lò Văn Giá
Lò Văn Giá (1919 – 1943), dân tộc Thái, sinh
ra trong một gia đình nông dân nghèo ở bản Cọ –
Châu Mường La (nay là phường Chiềng An, thành
phố Sơn La).
Anh Giá là một trong những thanh niên tiên phong
trong phong trào tuyên truyền, vận động nhân dân
địa phương đấu tranh chống lại chế độ bóc lột của
thực dân Pháp. Nhờ thông thạo địa hình Sơn La cùng
tinh thần giác ngộ, sự mưu trí, dũng cảm, Lò Văn Giá
được Chi bộ nhà tù Sơn La tin tưởng và giao trọng
trách dẫn đường cho đoàn tù nhân chính trị vượt ngục
Hình 3.1. Anh hùng, liệt sĩ Lò Văn Giá
(1919 – 1943)
17
năm 1943. Đây là cuộc vượt ngục duy nhất do Chi bộ nhà tù Sơn La tổ chức, có ý nghĩa vô
cùng quan trọng đối với phong trào cách mạng của Sơn La. Cuộc vượt ngục đã được chuẩn
bị suốt 2 năm để đưa 4 cán bộ cốt cán của cách mạng (Lưu Đức Hiểu, Nguyễn Văn Trân,
Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh) về dưới xuôi lãnh đạo phong trào cách mạng.
Thực dân Pháp chỉ đạo lực lượng tay sai địa phương truy lùng gắt gao đoàn cán bộ
vượt ngục. Trải qua 9 ngày đêm gian khổ, thử thách, đoàn cán bộ được đưa về Hoà Bình
an toàn. Cuộc vượt ngục thành công có sự đóng góp rất lớn của người dẫn đường – anh
Lò Văn Giá.
Em có biết
Trong cuốn hồi kí “Hai lần vượt ngục”, đồng chí Trần Đăng Ninh viết về anh
Lò Văn Giá như sau:
“Anh thanh niên Thái đưa chúng tôi đến đây hết phận sự. Chúng tôi cùng anh
từ biệt bùi ngùi cảm động. Thuyền xa, chúng tôi nhìn theo người thanh niên Thái
và khắc tên Giá của anh vào lòng”.¹
Trên đường trở về Sơn La, anh Giá bị thực dân Pháp bắt. Mặc dù bị tra tấn tàn bạo
nhưng anh một lòng kiên trung, không khai nhận bất cứ thông tin gì liên quan đến tù nhân
cộng sản nhà tù Sơn La. Không đủ chứng cứ kết tội, thực dân Pháp đưa anh vào rừng
rồi thủ tiêu bí mật.
Tấm gương hi sinh của liệt sĩ Lò Văn Giá không chỉ khắc sâu thêm mối thù với thực
dân cướp nước mà còn là nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với đồng bào các dân tộc tỉnh
Sơn La trong c...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Nguyễn Huy Hoàng (Chủ biên)
Vũ Thị Hồng Mai – Hà Thị Thư
Vương Thị Phương Hạnh – Nguyễn Hoài Thu – Nguyễn Hoàng Mai
Tài liệu Giáo dục địa phương
TỈNH SƠN LA
Lớp
11
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
Mỗi chủ đề trong Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Sơn La lớp 11 được tổ chức thành
bốn hoạt động cụ thể sau:
MỞ ĐẦU
Tìm hiểu và hình thành nhận thức
ban đầu về nội dung bài học.
KIẾN THỨC MỚI
Cung cấp kiến thức phù hợp với nội
dung bài học và hình thành kĩ năng.
LUYỆN TẬP
Củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng
và ghi nhớ nội dung yêu cầu cần đạt.
VẬN DỤNG
Vận dụng kiến thức, kĩ năng vào trải
nghiệm và ứng dụng thực tế.
Câu hỏi
Câu hỏi gợi mở tìm hiểu bài, lĩnh hội
kiến thức mới.
Hãy bảo quản, giữ gìn sách giáo khoa để dành tặng
các em học sinh lớp sau!
LỜI NÓI ĐẦU
Theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, nội dung giáo dục
địa phương là những vấn đề cơ bản và thời sự về địa phương như: Văn
hoá, lịch sử truyền thống; các vấn đề về địa lý, kinh tế, hướng nghiệp; các
vấn đề về chính trị – xã hội, môi trường. Mục tiêu của tài liệu nhằm bổ sung
cho nội dung giáo dục bắt buộc thống nhất trong cả nước, trang bị cho học
sinh những hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu
quê hương, ý thức tìm hiểu và vận dụng những điều đã học để góp phần
giải quyết những vấn đề của quê hương.
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Sơn La lớp 11 được biên soạn theo
Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo ban hành, bảo đảm tính cơ bản, khoa học thiết thực và phù hợp
với thực tiễn tỉnh Sơn La.
Nội dung chính của Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Sơn La lớp 11 bao
gồm các kiến thức về địa phương như: Một số loại hình nghệ thuật dân
gian ở tỉnh Sơn La; Một số gương mặt nhà văn, nhà thơ hiện đại của tỉnh
Sơn La; Một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở tỉnh Sơn La; Phát triển ngành
công nghiệp ở tỉnh Sơn La; Phát triển ngành dịch vụ ở tỉnh Sơn La; Phát
triển công nghiệp chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh Sơn La; Chính sách
phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Sơn La; Tác động của một số hoạt động
sản xuất ở địa phương đến môi trường.
Mỗi bài học được biên soạn theo bốn phần: Mở đầu – Kiến thức
mới – Luyện tập – Vận dụng. Kết cấu này phù hợp với khả năng lĩnh hội
kiến thức và thuận tiện cho việc tổ chức dạy – học, góp phần hình thành
và phát triển năng lực theo đúng yêu cầu đặt ra của chương trình giáo dục
phổ thông cấp trung học phổ thông.
Chúc các em học tập vui, thu nhận thêm nhiều kiến thức về địa phương,
biết yêu quý và có ý thức xây dựng, phát triển quê hương mình ngày càng
giàu đẹp!
Ban biên soạn
3
MỤC LỤC
Chủ đề
4
Nội dung
Trang
1
MỘT SỐ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT DÂN GIAN TIÊU BIỂU
Ở TỈNH SƠN LA
5
2
MỘT SỐ GƯƠNG MẶT NHÀ VĂN, NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI TỈNH SƠN LA
11
3
MỘT SỐ NHÂN VẬT LỊCH SỬ TIÊU BIỂU Ở TỈNH SƠN LA
17
4
PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TỈNH SƠN LA
24
5
PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ TỈNH SƠN LA
30
6
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH SƠN LA
39
7
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH SƠN LA
45
8
TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT Ở ĐỊA PHƯƠNG
ĐẾN MÔI TRƯỜNG
51
CHỦ ĐỀ
1
MỘT SỐ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
DÂN GIAN TIÊU BIỂU Ở TỈNH SƠN LA
Mục tiêu
– Trình bày được khái niệm nghệ thuật dân gian và nhận biết được một số loại hình
nghệ thuật dân gian tiêu biểu ở tỉnh Sơn La.
– Mô tả và giới thiệu được loại hình nghệ thuật dân gian của một số dân tộc ở tỉnh
Sơn La.
– Hình thành ý thức bảo tồn, có hành động gìn giữ các loại hình nghệ thuật dân
gian của các dân tộc ở tỉnh Sơn La.
MỞ ĐẦU
Nghệ thuật dân gian là một phần rất quan trọng trong nền văn hóa của mỗi dân tộc.
Trên đất nước Việt Nam, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có những loại hình nghệ thuật
dân gian riêng biệt và vô cùng đặc sắc, tạo nên bức tranh tổng hòa về nghệ thuật dân
gian Việt Nam đa dạng và quý giá.
Cho biết mỗi hình ảnh dưới đây thể hiện loại hình nghệ thuật dân gian nào, của
dân tộc nào ở tỉnh Sơn La.
Hình 1.1
Hình 1.2
Hình 1.3
5
KIẾN THỨC MỚI
1. Nghệ thuật dân gian là gì?
– Nghệ thuật dân gian là nghệ thuật do Nhân dân sáng tạo ra, đáp ứng nhu cầu của
Nhân dân và nói lên suy nghĩ, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân. Nghệ thuật dân gian
vừa có tính chất phác, hồn nhiên, ngẫu hứng, vừa quy củ theo kinh nghiệm chắt lọc từ
đời sống.
– Nghệ thuật dân gian bắt nguồn và phản ánh đời sống văn hoá của một cộng đồng dân
cư, gồm sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình thông qua nhiều hình thức như các loại
hình biểu diễn âm nhạc, biểu diễn múa,... Nghệ thuật dân gian độc đáo của Việt Nam có
nhiều loại hình như: chèo, tuồng, hát then, múa rối nước, hát xoan, ca trù, dân ca quan họ
Bắc Ninh,...
– Nghệ thuật dân gian truyền thống của Sơn La bắt nguồn từ đời sống hiện thực, đồng
thời phản ánh cuộc sống cũng như tâm hồn, tình cảm của các dân tộc sống trên địa bàn
tỉnh Sơn La.
2. Giới thiệu một số loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc ở Sơn La
a) Dân ca truyền thống
Dân ca là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đồng bào các dân tộc ở tỉnh
Sơn La. Dân ca dân gian ở Sơn La được biết đến khá đa dạng và phong phú:
* Dân ca dân tộc Thái
Dân ca cổ truyền của người Thái ở tỉnh Sơn La do những thế hệ người Thái sáng tác,
lưu truyền, trau chuốt và tiếp nối. Căn cứ vào chức năng xã hội - văn hoá của các thể loại,
dân ca của người Thái ở Sơn La được chia làm ba loại:
– Dân ca về các chặng của cuộc đời con người có thể nói đến như: hát trong lễ ra cữ (Nhá
bươn); hát ru (Khắp Ú lụh); hát giao duyên (Khắp báo xào); hát về hôn nhân (Khắp au phua
au mía); hát lên nhà mới (Khắp khửn hươn maứ); hát tang lễ (Khắp xống khoăn côn tài)…
– Dân ca gắn với các hoạt động văn hoá có liên quan đến thiên nhiên - siêu nhiên. Trong
lao động sản xuất có: hát trên cánh đồng (Khắp loong Tôoông), hát đồng dao của trẻ em
trên bãi chăn gia súc và các chòi lúa (Khắp xư đếch nọi). Trong hoạt động nông nghiệp có:
hát cầu mưa (Xo phôn), lễ ăn cốm và cơm mới (Kin khảu mảu- khảu maứ).
– Dân ca trong các hoạt động văn hoá liên quan đến lịch sử cộng đồng và tín ngưỡng
như: cúng Mường (Xên mường), cúng bản (Xên bản), cúng gia tiên (Xên hướn), hát cúng
chữa bệnh (Xên một láo)....
* Dân ca dân tộc Mông
Người Mông có một kho tàng văn nghệ dân gian rất phong phú và độc đáo, gồm truyện
cổ, dân ca, tục ngữ, câu đố... Có thể coi đó là những chỉnh thể nghệ thuật gồm cả phần lời,
phần âm nhạc và nghệ thuật diễn xướng. Về nội dung, có thể chia dân ca dân tộc Mông
thành ba loại:
– Dân ca gắn với nghi lễ và phong tục: những bài khấn khi đón đứa trẻ chào đời,
những bài ca trong lễ dạm hỏi và lễ mừng đám cưới.
6
– Dân ca gắn với những vấn đề xã hội:
Gồm những bài ca than thân trách phận mồ
côi, than thân trách phận làm dâu; hát ca (cứ
nìa, he tẩu) trong đám cưới; điệu khóc than
(nhía) trong đám tang.
– Dân ca gắn với tình yêu (hay còn gọi là
dân ca trữ tình, giao duyên): Đây là loại hình
chiếm số lượng lớn và cũng là tiêu biểu của
dân ca và âm nhạc dân gian dân tộc Mông.
* Dân ca dân tộc Dao
Hình 1.4. Biểu diễn văn nghệ của người
Mông ở xã Tà Xùa, huyện Bắc Yên
Hiện nay, trong cộng đồng người Dao còn lưu giữ một kho tàng văn nghệ dân gian hết
sức phong phú. Các thể loại dân ca gồm các làn điệu hát giao duyên, đối đáp, hát ru, các
bài ca nghi lễ, cúng tế... Có thể nói sinh hoạt văn nghệ dân gian trong cộng đồng người
Dao cho đến nay vẫn giàu sức sống và giữ nguyên được nét truyền thống.
– Hát páo dung: là hình thức hát đối đáp giữa nam và nữ, nội dung chính là đề cao cuộc
sống lao động, đạo đức, lẽ sống, cách ứng xử, tình yêu thiên nhiên, tình yêu lứa đôi…
– Hát ru: Có thể hát ở mọi nơi, mọi lúc nhưng chủ yếu hát ru con ở nhà.
– Hát ghẹo: Là một hình thức hát đối đáp nam nữ về tình yêu, về cuộc sống, thường
hát trong lúc lao động sản xuất hằng ngày, trong đám cưới, vào nhà mới, không gian diễn
xướng rộng.
– Các bài ca nghi lễ (chủ yếu là lễ cấp sắc), cúng tế: Là những bài ca có nội dung
cầu xin thần linh phù hộ cho người được cấp sắc; dạy con cháu về đạo đức, lẽ sống của
người Dao; cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi...
Trong các tác phẩm dân ca của các dân tộc ở tỉnh Sơn La mà em biết, em
thích nhất tác phẩm nào? Nếu có thể, hãy biểu diễn một đoạn trong tác phẩm
mà em yêu thích nhất.
b) Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian
Trong quá trình sinh sống, phát triển, mỗi dân tộc trên địa bàn tỉnh Sơn La đã có ý thức
chế tạo những loại nhạc cụ để độc tấu, hoà tấu hoặc đệm hát trong sinh hoạt văn hoá
cộng đồng.
* Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân tộc Thái
– Nghệ thuật chơi đàn tính tẩu: Theo tiếng Thái, "tính" có nghĩa là đàn, "tẩu" có nghĩa là
bầu. Cách gọi tính tẩu là để phân biệt với đàn bầu của người Kinh. Cây đàn tính tẩu gồm
ba bộ phận chính: thân đàn làm bằng gỗ, bầu đàn làm bằng nửa quả bầu khô, dây đàn
làm bằng tơ xe. Đây là một loại nhạc cụ thuộc họ dây, của nhóm Thái Trắng vùng Quỳnh
Nhai và cũng là nhạc cụ của nhóm Thái Trắng khác ở Lai Châu. Cây đàn này dùng để
đệm cho hát giao duyên và nhất là tấu nhạc cho múa.
– Nghệ thuật chơi Pí pặp và pí đôi: Là nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà rung tự do và là một
nhạc cụ rất phổ biến ở dân tộc Thái Đen Mường La, Mường Muổi, Mường Mụa. Pí pặp là
nhạc cụ của nam giới, dùng để chơi nhạc đệm cho bài hát của nữ giới. Hai chiếc Pí pặp có
cùng kích thước, cùng định âm, được buộc ghép song song với nhau sẽ tạo ra chiếc Pí đôi.
7
– Nghệ thuật biểu diễn khèn bè (Kén pé): Là dạng phát triển cao nhất của cả một loạt
các nhạc cụ họ hơi có lưỡi gà rung tự do. Đây là nhạc cụ phổ biến của nhóm Thái Đen
ở vùng Yên Châu. Khèn bè được tạo bởi 14 ống nứa tép, các ống được xếp thành hai
hàng, mỗi hàng 7 ống, cách tạo bầu thổi, lỗ thổi rất tỉ mỉ, công phu. Khèn bè thường dùng
để chơi nhạc đệm cho hát và chơi các bài nhạc múa.
– Nghệ thuật biểu diễn Pí thiu (hay còn gọi là Pí khúi): Là loại nhạc cụ họ hơi, chi lỗ
vòm. Pí thiu theo nguyên tắc phát âm như chiếc tiêu của người Kinh. Nhạc cụ này phổ
biến ở vùng Thái Mộc Châu.
* Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian dân tộc Mông
Dân tộc Mông có các nhạc cụ như: Khèn, sáo, trống, chũm chọe, chuông, chiêng...
Các nhạc cụ này có âm sắc riêng biệt đặc trưng.
– Nghệ thuật biểu diễn khèn Mông: Là nhạc cụ, đồng thời cũng là đạo cụ múa, là vật
linh thiêng trong các nghi lễ, lễ hội của người Mông.
– Nghệ thuật biểu diễn sáo Mông: Gồm có sáo ngang (chang play) và sáo dọc (chang
pu lâu lế), là nhạc cụ thuộc họ hơi, được làm bằng cây măng dê, cây nứa có độ dày nhất
định, gióng dài, đều và dẻo. Sáo thường được sử dụng vào các dịp vui chơi tết lễ, đệm
để hát lúc trên nương, trong rừng, đi chơi gọi bạn.
Ngoài hai loại trên, nhạc cụ dân gian của dân tộc Mông còn phải kể đến đàn môi
(chang lang), chiêng (trùa), quả chuông (chư nênh), trống, khèn lá...
* Nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian dân tộc Dao
Dân tộc Dao có nhiều loại nhạc cụ: trống, thanh la (chiêng), tù và,... đặc biệt là chuông
được sử dụng phổ biến trong các nghi lễ cũng như làm nhạc đệm, đạo cụ cho các điệu
múa. Nhạc cụ của dân tộc Dao được sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ, ít được dùng làm
nhạc đệm để hát. Gồm có:
– Nghệ thuật biểu diễn trống: Trống của người Dao cũng giống như trống các dân tộc
khác, nhưng có kích thước nhỏ, đặc biệt mặt trống được gông cho căng bằng hệ thống
dăm gỗ cài sít vào nhau ở cả hai bên mặt trống, vừa tạo độ căng, chắc cho mặt trống, vừa
tạo thẩm mỹ riêng. Trống được sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ, là nhạc cụ không thể
thiếu trong bộ đồ cúng của các thầy cúng người Dao.
– Nghệ thuật biểu diễn chuông: Có hai loại chuông, chuông to và chuông nhỏ. Chuông
nhỏ vừa dùng trong các lễ nghi, vừa dùng làm nhạc cụ, đạo cụ trong các điệu múa.
Chuông to chỉ dùng cho các thầy cúng gõ trong các lễ nghi.
Ngoài hai nhạc cụ kể trên còn có nom dặt (nhạc cụ họ hơi, làm từ đồng), thanh la (hình
dáng giống chiêng nhưng nhỏ hơn), tù và (làm bằng sừng trâu)... được sử dụng khá phổ
biến trong đời sống cũng như các nghi lễ của dân tộc Dao.
Hãy vẽ hoặc biểu diễn một loại nhạc cụ mà em yêu thích.
c) Múa dân gian
Sơn La được mệnh danh là vùng “đất múa”, vì nơi đây có một kho tàng nghệ thuật múa
dân gian vô cùng phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc của các dân tộc.
* Múa dân gian dân tộc Thái
Trước đây, người Thái gọi nghệ thuật múa của mình là “xe”: “xe khăn” – múa khăn,
8
“xe cúp” – múa nón, “xe vi” – múa quạt, “xe má hính” – múa quả nhạc... “điệu xe, bài xe”
là điệu múa, bài múa. Đến giữa thế kỷ XX, trong tiếng Việt, từ “xe” biến âm thành “xòe”.
Ngày nay, nghệ thuật múa, tác phẩm múa được nhân dân quen dùng để gọi nghệ thuật
xòe, điệu xòe, bài xòe.
Đến nay, người ta đã thống kê được 32 điệu múa đặc sắc trong kho tàng múa dân tộc
Thái, trong đó có các điệu như: Xoè vòng, xoè chá, xoè khăn, xoè quạt, xoè nón... Người
Thái thường tổ chức xoè trong các hoạt động như: Xên bản (cúng bản), Xên mường (cúng
mường), Kin pang Then, Hết chá, mừng cơm mới, mừng nhà mới, đám cưới, Tết, hội
diễn... "Không xoè cây lúa không trổ bông, không xoè cây ngô không ra bắp, không xoè
trai gái không thành đôi...", câu dân ca đã khẳng định vai trò của xoè trong đời sống dân
tộc Thái. Với giá trị nhân văn vô cùng đặc sắc, ngày 15-12-2021, nghệ thuật Xoè Thái đã
được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
* Múa dân gian của dân tộc Mông
Người Mông có điệu múa đặc sắc nhất là múa khèn. Nghệ thuật trình diễn dân gian của
người Mông gắn với chiếc khèn với ngôn ngữ múa ngẫu hứng mang đậm bản sắc văn hoá
dân gian của dân tộc Mông. Người múa thể hiện cảm xúc say sưa sáng tạo, nội tâm mạnh mẽ.
Động tác múa khèn rất đa dạng, phong phú: múa nhảy đưa chân, quay đổi chỗ, quay tại chỗ,
vờn khèn, lăn nghiêng, lăn ngửa, múa ngồi xổm, đi tiến, đi lùi theo bốn hướng, mỗi bước tiến,
bước lùi làm sao chỉ để chân này chạm gót chân kia. Động tác cơ bản là khom lưng, quay hất
gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoắn ốc..., với
tốc độ càng nhanh càng điêu luyện. Đối với các bài khèn vui chơi thì động tác nhảy, múa mãnh
liệt, phóng khoáng và khó hơn, như lăn nghiêng, lăn ngửa, đá gà, đá ngựa, nhảy ngồi xổm, tay
nọ vỗ vào chân kia, tay kia vỗ vào chân nọ, tiếng vỗ phải kêu, mà tiếng khèn vẫn không dứt.
Thổi sáo và múa khèn không chỉ thể hiện sự tài hoa, khéo léo của người đàn ông Mông mà
qua đó còn thể hiện sức sống mạnh mẽ, ý chí vươn lên, tinh thần thượng võ của người Mông.
* Múa dân gian của dân tộc Dao
Điệu múa dân gian phổ biến nhất của người Dao là múa chuông (người Dao gọi là xòe
chuông). Đối với người Dao, trong các cuộc vui ai cũng có thể tham gia múa chuông: già,
trẻ, nam, nữ. Người múa thường đứng thành vòng tròn, tay trái cầm một que tre nhỏ và tay
phải cầm một chiếc chuông nhỏ, cùng với động tác đưa chân, xoay vòng thì hai tay cũng
được vung lên tạo thành điệu múa mềm mại cùng âm thanh trong trẻo của chiếc chuông.
Không chỉ các dân tộc Thái, Mông, Dao mà các dân tộc khác sinh sống trên địa bàn tỉnh
Sơn La cũng có những điệu múa mang đậm bản sắc của dân tộc mình: Dân tộc Mường có
hàng chục điệu múa cổ như: múa đâm đuống, múa đâm trống đồng, múa quạt cọ, múa kiếm,
múa cờ, múa nàng Khọt, múa chúc phúc, nhảy sạp... Người Khơ Mú có điệu múa lắc hông
Veelr guông truyền thống, múa sạp, múa xòe vòng, múa hưn mạy, múa tăng bu... Người
Kháng cũng có điệu múa tăng bu, múa sạp, múa xòe vòng giống như đồng bào Thái… Người
La Ha có điệu múa phổ biến nhất là tăng bu, ngoài ra có múa khăn. Người Lào có điệu xả la
lăm vông nổi tiếng với các bài hát và múa như: Hoa Chămpa, Lăm tơi...
Trong các tác phẩm múa dân gian của đồng bào các dân tộc, em thích nhất điệu
múa nào? Hãy giải thích tại sao lại thích điệu múa đó và nếu có thể em hãy biểu
diễn một đoạn trong điệu múa mà em yêu thích.
9
LUYỆN TẬP
Chọn một trong 2 hình thức để triển khai:
1. Hãy liệt kê những nét đặc sắc về nghệ thuật truyền thống của một số dân tộc ở tỉnh
Sơn La theo gợi ý sau:
Một số dân tộc ở Sơn La
Nghệ thuật dân tộc Thái
Nghệ thuật dân tộc Mông
Nghệ thuật dân tộc Dao
... Nghệ thuật dân tộc
Nội dung tổng hợp
Nét đặc sắc
Dân ca - âm nhạc dân tộc Thái
...
Múa dân tộc Thái
...
Dân ca - âm nhạc dân tộc Mông
...
Múa dân tộc Mông
...
Dân ca - âm nhạc dân tộc Dao
...
Múa dân tộc Dao
...
...
...
...
...
2. Chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm lên kế hoạch tham quan, tìm hiểu về một loại
hình nghệ thuật truyền thống ở Sơn La.
Gợi ý nội dung trong lập kế hoạch
– Loại hình nghệ thuật
– Địa điểm, thời gian
– Nội dung tìm hiểu
– Phương tiện, dụng cụ phục vụ cho hoạt động tìm hiểu
– Phương tiện đi lại
–…
VẬN DỤNG
1. Dựa trên kết quả học tập ở mục Luyện tập về việc tìm hiểu một loại hình nghệ
thuật truyền thống ở tỉnh Sơn La, mỗi nhóm học sinh thể hiện kết quả tìm hiểu dưới
dạng hình ảnh theo video clip, dán, vẽ trên giấy khổ Ao hoặc slide trình chiếu… và trình
bày trước lớp.
2. Chia lớp thành 8 – 10 nhóm học sinh, mỗi nhóm thể hiện một điệu múa, bài hát
hoặc nhạc cụ gắn liền với địa phương mình.
10
CHỦ ĐỀ
2
MỘT SỐ GƯƠNG MẶT NHÀ VĂN,
NHÀ THƠ HIỆN ĐẠI TỈNH SƠN LA
Mục tiêu
– Nhận biết được một số gương mặt văn học hiện đại của tỉnh Sơn La.
– Nêu được những đóng góp của một số nhà văn, nhà thơ hiện đại Sơn La cho nền
văn học.
– Trân trọng, tự hào về những nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của quê hương Sơn La.
MỞ ĐẦU
Đóng góp vào hành trình kiến tạo văn hoá của tỉnh Sơn La phải kể đến những gương
mặt nhà văn, nhà thơ hiện đại ở Sơn La. Với tình yêu quê hương, họ vừa tiếp nối truyền
thống văn học dân gian của dân tộc, vừa sáng tạo và cách tân tạo nên những nét đặc sắc,
hình thành diện mạo mới cho nền văn học tỉnh Sơn La.
1. Kể tên những nhà văn, nhà thơ và tên một số tác phẩm của nhà văn,
nhà thơ ở Sơn La mà em biết.
2. Quan sát những hình ảnh dưới đây và chia sẻ những thông tin mà em biết
về cuộc đời, sáng tác của các nhà văn, nhà thơ đó.
Hình 2.1. Nhà thơ
Cầm Biêu
Hình 2.2. Nhà thơ,
nhà văn Hoàng Nó
Hình 2.3. Nhà văn
Sa Phong Ba
Hình 2.4. Nhà văn
Kiều Duy Khánh
11
KIẾN THỨC MỚI
1. Một số vấn đề chung về văn học hiện đại của tỉnh Sơn La
Về lịch sử phát triển, văn học hiện đại tỉnh Sơn La cũng nằm trong dòng chảy lịch sử
của văn học Việt Nam hiện đại, cũng được hình thành từ đầu thế kỉ XX, song chính thức
trở thành một dòng chảy lớn khi có sự xuất hiện của một thế hệ nhà văn trưởng thành
sau cách mạng tháng Tám. Về nội dung, văn học hiện đại tỉnh Sơn La vừa bám sát những
bước đi của hai cuộc kháng chiến và công cuộc xây dựng đất nước, vừa phản ánh sinh
động cuộc sống, tâm hồn, tình cảm phong phú của đồng bào các dân tộc tỉnh Sơn La, có
bản sắc riêng. Có thể khái quát một số đặc điểm của nền văn học hiện đại tỉnh Sơn La
như sau:
– Văn học hiện đại tỉnh Sơn La là một bộ phận đặc sắc của văn học hiện đại Việt Nam.
– Văn học hiện đại Sơn La thể hiện tính song hành giữa văn học viết tiếng Việt với văn
học tiếng dân tộc; văn học bác học với văn học dân gian.
– Văn học hiện đại Sơn La mang đậm bản sắc các dân tộc anh em.
2. Một số gương mặt nhà văn hiện đại của Sơn La
Văn học hiện đại tỉnh Sơn La có tính dân tộc đặc sắc, thể hiện qua một số tác giả tiêu
biểu như: Cầm Biêu, Hoàng Nó, Sa Phong Ba, Kiều Duy Khánh,...
a) Nhà thơ Cầm Biêu
Cố nhà thơ Cầm Biêu (1920 - 1997) dân tộc Thái, sinh ra trên mảnh đất Mường Chanh,
Mai Sơn, Sơn La. Kho tàng văn hoá đồ sộ của dân tộc Thái qua các hoạt động văn hóa
dân gian, cuộc sống hàng ngày đã chắt chiu, vun đắp tâm hồn nhà thơ.
Giai đoạn mới sáng tác, thơ Cầm Biêu đi vào lòng người bằng những lời ca tuyên
truyền, về sau, thơ ông ngày càng sâu sắc, giàu tính triết lí hơn. Được các chiến sĩ
cộng sản giác ngộ, trưởng thành trong
kháng chiến, nhà thơ Cầm Biêu chính
là một trong những người có công đầu
xây đắp nền văn học Sơn La từ thời kì
đầu kháng chiến chống Pháp.
Cuộc đời hoạt động cách mạng
và sáng tác thơ ca của nhà thơ Cầm
Biêu hoà quyện; ông vừa là nhà quản
lý văn hoá văn nghệ của Đảng, vừa là
Hình 2.5. Một số tác phẩm của nhà thơ Cầm Biêu
12
nhà thơ dân tộc. Trong suốt cuộc đời,
ông đã say sưa viết không biết mệt mỏi, tâm hồn ông
như cánh chim giữa núi rừng ngày càng sải cánh.
Năm 1982, Ty Văn hoá và Thông tin Sơn La đã tập
hợp một số sáng tác thơ của ông và xuất bản tập thơ
“Cầu vào bản”.
Thơ Cầm Biêu giàu hình ảnh, ý thơ hàm xúc, ngôn
ngữ mộc mạc, giản dị. Ông là nhà thơ dân tộc đầu
tiên có những đóng góp quan trọng đối với văn học
vùng Tây Bắc. Nhà thơ dân tộc Thái Cầm Biêu luôn
mãi là một trong những nhà thơ cách mạng người
dân tộc đầu tiên, nhà thơ lớn của vùng Tây Bắc.
Hình 2.6. Bìa tập thơ “Cầu vào bản”
b) Nhà văn, nhà thơ Hoàng Nó
Nhà văn, nhà thơ Hoàng Nó tên thật là Cầm Văn Lương,
sinh năm 1925 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, dân tộc Thái,
mất năm 2000. Ông nguyên là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Ông từng giữ chức vụ Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh
uỷ Sơn La.
Các tác phẩm chin
́ h của ông có thể kể đến: Diễn ca khu tự
trị (1954), Lòng dân miền núi (thơ, 1957), Tiếng hát Mường
Hoa Ban (thơ, 1987), Vượt sông Đà (hồi ký, 1993), dịch Nghìn
Hình 2.7. Nhà văn,
nhà thơ Hoàng Nó
lẻ một đêm từ tiếng Việt ra tiếng Thái và nhiều công trin
̀ h
nghiên cứu dịch thuật từ
tiếng Thái ra tiếng Việt. Thơ văn Hoàng Nó thể hiện
những tin
̀ h cảm chân thành của một con người hết
lòng theo cách mạng. Sáng tác của Hoàng Nó hầu
hết được viết bằng tiếng Thái. Đó là những lời ca sâu
lắng, thiêng liêng, bền chặt nghĩa Đảng, tin
̀ h dân. Về
bút pháp, thơ văn Hoàng Nó thường có lối kể, tả cụ
thể, hin
̀ h ảnh so sánh, ví von giản dị, gần gũi.
Thơ văn Hoàng Nó theo sát bước đi của sự nghiệp
cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Sơn La. Ông là
người đặt nền móng cho văn học cách mạng ở Sơn
La. Cảm hứng xuyên suốt toàn bộ thơ văn Hoàng Nó
là ca ngợi mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân.
Hình 2.8. Bìa tác phẩm “Thơ văn
Hoàng Nó”
13
c) Nhà văn Sa Phong Ba
Nhà văn Sa Phong Ba tên thật là Sa Viết Sọi, sinh
năm 1948 tại Bắc Yên, Sơn La, dân tộc Thái. Năm
1973, tốt nghiệp Trường Đại học Tuyên giáo Trung
ương (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền), Sa
Viết Sọi về công tác ở Đài Phát thanh Khu tự trị Tây
Bắc. Sau đó ông về là phóng viên Báo Sơn La với chức
Hình 2.9. Một số tác phẩm của
nhà văn Sa Phong Ba
vụ cao nhất là Phó phòng Biên tập và tới năm 1986 thì
ông nghỉ chế độ.
Những tác phẩm chin
́ h: Những bông ban tím (tập truyện ngắn, 1983), Vùng đồi gió
quẩn (tập truyện ngắn, 1995), Giữ lấy rừng vàng (kịch), Lặng lẽ Phiêng Côn (bút ký),
Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (tập truyện ngắn)... Sa Phong Ba có sở trường đi sâu vào
những vấn đề thế sự, đổi mới cách làm ăn kinh tế, tinh thần dám nghi ̃ dám làm của bà con
vùng cao, những cách ứng xử trong tập thể... Nhiều truyện ngắn của ông có xu hướng
trào phúng qua việc xây dựng những tin
̀ h huống bất ngờ, thâm thúy. Phần lớn các nhân
vật của ông là những người nông dân lao động miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số. Ông
có biệt tài khai thác nội tâm nhân vật thông qua những hành động, cử chi,̉ lời ăn tiếng nói
của nhân vật.
Năm 1997, Sa Phong Ba được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ông còn là hội viên
Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật
Sơn La, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
d) Nhà văn Kiều Duy Khánh
Kiều Duy Khánh là một nhà văn trẻ của tỉnh Sơn La, sinh
năm 1980, quê gốc ở huyện Thạch Thất, Hà Nội, nhưng sinh
ra, lớn lên và gắn bó sâu sắc với mảnh đất Sơn La. Với năng
khiếu kể chuyện và một tình yêu đặc biệt dành cho núi rừng,
cuộc sống con người Sơn La, Kiều Duy Khánh đã trở thành
một nhà văn trẻ có nhiều thành tựu, ghi dấu ấn trong nền văn
học hiện đại của tỉnh Sơn La.
Ngòi bút Kiều Duy Khánh khá đa dạng, anh viết nhiều thể
loại: truyện, tản văn, thơ ca, song đặc sắc nhất vẫn là truyện
ngắn. Truyện của Kiều Duy Khánh có cốt truyện giản dị nhưng
hấp dẫn người đọc bằng một ngôn ngữ giàu hình ảnh, thể hiện
được khả năng khắc hoạ không gian thiên nhiên, đời sống phong tục tập quán, tâm linh
đặc biệt của người Tây Bắc. “Gió vẫn thổi giữa rừng”, “Nắng cuối rừng”, “Trở về với núi”...
14
là những truyện ngắn tiêu biểu nhất của Kiều Duy Khánh, cất tiếng nói cho thân phận con
người miền núi nhỏ bé bình dị, để lại nhiều suy tư sâu sắc cho người đọc.
Với nhiều tác phẩm hay, đặc sắc, thu hút độc giả, tác giả Kiều Duy Khánh đã đoạt
nhiều giải thưởng lớn. Từ năm 2017 đến nay, Kiều Duy Khánh là một trong số ít tác giả
của Sơn La có tác phẩm truyện ngắn được đăng trong tập truyện ngắn hay của NXB Văn
học và NXB Hội Nhà văn Việt Nam, trên các báo, tạp chí trong và ngoài nước. Kiều Duy
Khánh là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số Việt Nam.
Em hãy lập bảng tổng hợp những thông tin chính về các gương mặt văn học
hiện đại của Sơn La theo mẫu dưới đây:
STT
Tác giả
1
Nhà thơ Cầm Biêu
Tiểu sử của
tác giả
...
2
Nhà văn Sa Phong Ba
...
...
...
3
Nhà văn, nhà thơ Hoàng Nó ...
...
...
4
Nhà văn Kiều Duy Khánh
...
...
...
Đóng góp của Tác phẩm
tác giả
tiêu biểu
...
...
LUYỆN TẬP
1. Chia lớp theo nhóm trình bày về tiểu sử, đóng góp của nhà văn hoặc nhà thơ hiện đại
ở địa phương em theo gợi ý sau:
– Nhà thơ Cầm Biêu
– Nhà văn nhà thơ Hoàng Nó.
– ...
2. Hãy đọc văn bản sau (trích tản văn "Măng đắng cuối mùa" của nhà văn Kiều Duy Khánh)
và viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Sơn La.
"...Sau tết, khi trận mưa mới đem theo tiếng sấm đầu mùa ùng ùng chạy dọc trên mái
nhà, chạy ngang ngoài ruộng mạ thì những chiếc măng đắng trong rừng vươn mình đội
đất chui lên. Tiếng sấm gọi măng dậy. Tiếng sấm truyền cho măng cái hồn, cái tính, cái
đắng. Măng ùn ùn vươn lớn. Những tai măng như những chiếc tai dúi dỏng lên mà nghe
sấm, đón mưa.
Rồi thì cái vị ngọt của măng sẽ chuyển dần sang vị đắng. Lúc đầu còn nhằng nhặng,
sau rồi đắng giòn, đắng dai. Bữa cơm tối chỉ đĩa măng luộc bổ bốn, vài cái măng nướng
15
bổ đôi. Chấm miếng măng vào bát chẳm chéo, rồm rộp nhai. Vị đắng đến ù tai, đến xoắn
lưỡi, thế mà thấy ngon, thấy thích, thấy nhớ. Thấy thèm đến cồn cào khi một mùa măng
nào đó phải xa núi, xa nhà.
Cũng có người không ưa vị đắng gắt, nhưng lại vẫn thèm cảm giác giòn rụm, ngọt lử
của cái măng đầu mùa, thì đã có lá Phắc mạ non, một loại lá có vị chát nhất trong các loại
lá chát. Lúc này, ven bờ suối, cây Phắc mạ đã bung ra những chùm lá mơn mởn, bóng
nhẫy, tím ngắt. Hái chùm lá về, cuốn tròn quanh miếng măng, chấm vào bát chẳm chéo,
đưa lên miệng, nhòm nhèm nhai. Thấy vị đắng chỉ còn mỏng như vệt sương chiều, vị
ngọt giòn đậm đà như măng đầu vụ xen lẫn vị bùi của lá chát, vị cay xé của quả ớt rừng,
vị thơm tê lưỡi của quả mắc khén, vị mặn mòi của muối. Ăn miếng măng trong bữa cơm
chiều ấm áp mà thấy đủ cả những ngọt bùi đắng cay.
Cây Phắc mạ chỉ mọc ven suối, măng đắng ưa sống ở núi cao. Ai đã nhận ra mối lương
duyên của chúng? Cũng không biết nữa. Những kinh nghiệm quý thì đời trước bảo cho
đời sau, đời sau truyền cho đời sau… cứ thế...".
(Những đôi môi cười – Tập Tản văn, nhiều tác giả, NXB Hội nhà văn, 2022, tr.107-109)
VẬN DỤNG
Sưu tầm tư liệu (bài báo, tranh ảnh, video,...) hoặc thực hiện một phóng sự về cuộc
đời, tác phẩm của một nhà văn, nhà thơ tiêu biểu.
16
CHỦ ĐỀ
3
MỘT SỐ NHÂN VẬT LỊCH SỬ
TIÊU BIỂU Ở TỈNH SƠN LA
Mục tiêu
– Kể tên được một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở tỉnh Sơn La.
– Trình bày được những nét khái quát về tiểu sử, hoạt động và những đóng góp của
một số nhân vật lịch sử tiêu biểu ở tỉnh Sơn La.
– Tự hào về truyền thống đấu tranh và lao động của người dân tỉnh Sơn La.
– Thực hiện được những việc làm thể hiện trách nhiệm của công dân với bản thân,
gia đình, quê hương.
MỞ ĐẦU
Sơn La là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng. Trong suốt chiều dài lịch sử, những
người con ưu tú ở Sơn La đã đóng góp công sức, xương máu góp phần viết nên lịch sử
địa phương và lịch sử dân tộc. Trong những tấm gương ấy có thể kể đến một số nhân vật
lịch sử tiêu biểu như: Anh hùng – Liệt sĩ Lò Văn Giá, ông Tráng Lao Khô, Anh hùng
Đinh Đức Dừa, Anh hùng lao động Vì Văn Ỏm.
Nêu hiểu biết của em về những nhân vật lịch sử kể trên?
Kể tên những nhân vật lịch sử ở Sơn La mà em biết.
KIẾN THỨC MỚI
1. Anh hùng, liệt sĩ Lò Văn Giá
Lò Văn Giá (1919 – 1943), dân tộc Thái, sinh
ra trong một gia đình nông dân nghèo ở bản Cọ –
Châu Mường La (nay là phường Chiềng An, thành
phố Sơn La).
Anh Giá là một trong những thanh niên tiên phong
trong phong trào tuyên truyền, vận động nhân dân
địa phương đấu tranh chống lại chế độ bóc lột của
thực dân Pháp. Nhờ thông thạo địa hình Sơn La cùng
tinh thần giác ngộ, sự mưu trí, dũng cảm, Lò Văn Giá
được Chi bộ nhà tù Sơn La tin tưởng và giao trọng
trách dẫn đường cho đoàn tù nhân chính trị vượt ngục
Hình 3.1. Anh hùng, liệt sĩ Lò Văn Giá
(1919 – 1943)
17
năm 1943. Đây là cuộc vượt ngục duy nhất do Chi bộ nhà tù Sơn La tổ chức, có ý nghĩa vô
cùng quan trọng đối với phong trào cách mạng của Sơn La. Cuộc vượt ngục đã được chuẩn
bị suốt 2 năm để đưa 4 cán bộ cốt cán của cách mạng (Lưu Đức Hiểu, Nguyễn Văn Trân,
Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh) về dưới xuôi lãnh đạo phong trào cách mạng.
Thực dân Pháp chỉ đạo lực lượng tay sai địa phương truy lùng gắt gao đoàn cán bộ
vượt ngục. Trải qua 9 ngày đêm gian khổ, thử thách, đoàn cán bộ được đưa về Hoà Bình
an toàn. Cuộc vượt ngục thành công có sự đóng góp rất lớn của người dẫn đường – anh
Lò Văn Giá.
Em có biết
Trong cuốn hồi kí “Hai lần vượt ngục”, đồng chí Trần Đăng Ninh viết về anh
Lò Văn Giá như sau:
“Anh thanh niên Thái đưa chúng tôi đến đây hết phận sự. Chúng tôi cùng anh
từ biệt bùi ngùi cảm động. Thuyền xa, chúng tôi nhìn theo người thanh niên Thái
và khắc tên Giá của anh vào lòng”.¹
Trên đường trở về Sơn La, anh Giá bị thực dân Pháp bắt. Mặc dù bị tra tấn tàn bạo
nhưng anh một lòng kiên trung, không khai nhận bất cứ thông tin gì liên quan đến tù nhân
cộng sản nhà tù Sơn La. Không đủ chứng cứ kết tội, thực dân Pháp đưa anh vào rừng
rồi thủ tiêu bí mật.
Tấm gương hi sinh của liệt sĩ Lò Văn Giá không chỉ khắc sâu thêm mối thù với thực
dân cướp nước mà còn là nguồn cổ vũ mạnh mẽ đối với đồng bào các dân tộc tỉnh
Sơn La trong c...
 






Các ý kiến mới nhất